Địa vị của người phụ nữ trong xã hội An Nam

Qua những ghi chép của các tác giả Pháp đầu thế kỷ XX, hình ảnh người phụ nữ An Nam hiện lên rõ nét cả từ trong hôn nhân, thiết chế gia đình, quyền thừa kế, tới thân phận goá phụ, hay những nghi lễ quan trọng. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu tới bạn đọc bài viết của viên biện lý người Pháp tại tỉnh Bạc Liêu, ông Paul d’Enjoÿ, về địa vị của người phụ nữ trong xã hội nước ta thời xưa. Bài viết nằm trong Tập san và Kỷ yếu của Hội Nhân chủng học Paris số 4, xuất bản năm 1903. Các từ ngữ và ý kiến trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

1. Con gái

Khi trong gia đình người An Nam sinh được một bé gái, sự kiện đó là niềm vui với cha mẹ nếu như việc nối dõi đã được đảm bảo bằng hai hoặc ba người con trai.

Ngược lại, đó là nỗi thất vọng sâu thẳm nếu bé gái là người con cả, chỉ khi lần mang thai kế tiếp bắt đầu mới có thể khiến việc này nguôi ngoai.

Quả thật, mối quan tâm đầu tiên và cũng là lớn nhất của mọi người An Nam, cũng như người Trung Hoa tôn trọng truyền thống gia đình, là phải có con trai để nối dõi tông đường, để có một hậu duệ cho tổ tiên, để chuẩn bị trở thành người chủ tế lễ trong tương lai – những người mà vào mỗi dịp Tết hằng năm, nhận nhiệm vụ thắp hương cho các bậc tiền nhân và cúng bái họ trước bàn thờ của gia đình.

Nhưng khi việc nối dõi đã được bảo đảm, người An Nam lại ưa chuộng con gái hơn con trai. Đứa con trai sẽ khiến họ tốn kém nhiều hơn trong việc nuôi dưỡng, chu cấp, học hành và lo chuẩn bị sính lễ để kết hôn. Còn con gái, như cách nói dân gian của người An Nam, được xem như “con mèo trong nhà”, con mèo nhỏ của mái ấm: tinh nghịch, lanh lợi, có thể nghịch ngợm đấy, nhưng luôn luôn tỉnh táo, chăm chỉ làm việc không ngơi nghỉ.

Những cô gái Huế ngồi học thêu khoảng năm 1919 – 1926. Nguồn: Bảo tàng Quai Branly

Luôn là người phụ giúp gia đình nhanh nhẹn, trợ thủ ngoan ngoãn của những người mẹ, con gái trong gia đình suốt ngày giặt giũ, may vá, dệt vải; khi màn đêm buông xuống, để làm hài lòng cha mẹ, con gái cất tiếng hát theo tiếng đàn nguyệt, hát những bài thơ cổ bằng âm chữ Hán mà bản thân người con gái còn không hiểu rõ nghĩa; hoặc biểu diễn một điệu múa đoan trang, lấy cảm hứng từ nước Xiêm, dưới ánh đuốc làm từ lá cọ, theo nhịp trống, tiếng lách cách khô khô của bộ phách và âm thanh khàn đục của cây đàn bầu hình dáng như một chiếc tẩu.

Là người chị hiền hậu, vào những giờ rảnh rỗi nghỉ ngơi, con gái nô đùa cùng anh chị em mình theo sở thích của lứa tuổi nhưng vẫn luôn giữ đúng khuôn phép. Với các em gái nhỏ tuổi hơn, nó có phần hơi tỏ ra lối bề trên, bởi tuổi tác quy định các em ở vị trí thấp hơn; với các chị gái, nó tỏ ra kính cẩn và phục tùng, vì sinh trước nên họ đứng trên nó trong trật tự thứ bậc gia đình; còn với các anh em trai, dù nhỏ tuổi đến đâu, nó cũng cần có sự tận tuỵ, bởi giới tính của họ đặt người con gái vào vị thế đó. Con gái gọi các em gái nhỏ tuổi hơn là “em”, các chị lớn tuổi hơn là “chị”, nhưng đối với con trai, dù lớn hay nhỏ vẫn dùng danh xưng “anh”.

Ở Trung Hoa cũng như ở An Nam, theo truyền thống, thuở ban đầu chỉ tồn tại 100 gia tộc nên ở đây chỉ có khoảng 100 họ khác nhau. Để phân biệt giữa các cá nhân, người An Nam thêm vào tên họ một tên đệm biểu thị giới tính và một tên riêng. Như vậy, tên của một người An Nam gồm ba phần: HỌ – ĐỆM – TÊN, tức gia đình – giới tính – con người. Tuy nhiên, trong khi đàn ông có thể chọn tên đệm của mình từ tập hợp khá đa dạng, dù phổ biến nhất và phù hợp nhất với truyền thống là “Văn”, thì tên đệm của người phụ nữ chỉ có một và không bao giờ thay đổi, đó là “Thị”.

Bất kể là trai hay gái, suốt cả đời, con cái đều nằm dưới uy quyền của cha mẹ. Họ không thể kết hôn nếu không có sự ưng thuận của đấng sinh thành; và sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình chặt chẽ đến mức họ tập trung tuyệt đối vào phẩm chất của người đứng đầu gia đình: người cha. Trật tự thứ bậc gần như mang tính chuyên chế về hình thức, dù bản chất vẫn hoà hợp, hình thành ở mỗi thành viên những bổn phận không ngơi nghỉ, buộc họ tỏ ra hết sức kính trọng, phải luôn xem xét thái độ của mình, thậm chí cân nhắc từng lời nói. Người cha không bao giờ thơm con trẻ. Nụ hôn của người cha là điều xa lạ với người dân xứ này, chỉ có người lớn tuổi chạm má vào nhau, nhưng cử chỉ ấy không phải để dùng trong mối quan hệ với trẻ em.

Điều đó cũng không có nghĩa là đứa trẻ người An Nam bị nuôi dạy theo cách hà khắc. Trái lại, không có người cha nào tốt hơn người Trung Hoa và người An Nam, cũng không có những người mẹ nào tận tuỵ hơn những người vợ của họ. Đặc biệt, các bé gái được nâng niu và chăm sóc bằng sự ân cần lớn nhất. Chúng được nuôi dạy trong khuôn khổ gia đình, tránh xa những mối giao du đáng ngờ và các quan hệ nguy hiểm. Trong khi các anh em trai được tự do vui chơi ngoài đường phố, con gái An Nam chỉ quanh quẩn trong nhà.

Từ tuổi ấu thơ, người ta đã đeo cho bé gái nào vòng cổ, vòng tay, nhẫn; mặc cho các em chiếc áo bằng lụa sặc sỡ và chiếc quần bằng vải nhăn. Sự phong phú của trang phục và đa dạng của đồ trang sức các em dùng chẳng kém gì con trai, ngoài ra, các bé gái còn có vẻ duyên dáng nữ tính xuất hiện rất sớm. Thời thơ ấu, áo dài, quần, mái tóc cạo sát chỉ để lại một lọn tóc rủ xuống là những đặc điểm giống nhau ở cả hai giới. Tuy nhiên, con gái không được đến trường như các anh em trai, nhằm giúp gia đình tiện giám sát hơn; và đối với các em, người cha cũng chính là người thầy. Việc học của các bé gái chủ yếu hướng đến những môn nghệ thuật tao nhã, việc giáo dục thì hướng đến việc duy trì thầm lặng mái ấm gia đình.

Một bé gái An Nam có thể đi xem hát, nhưng không đi học. Hiếm khi em biết đọc, biết viết cho đúng; nhưng lại có thể thuộc lòng và đọc trôi chảy, không sai chữ nào những bài thơ kinh điển dài; em biết chơi khá nhiều loại nhạc cụ; và xét trên tư cách là người nội trợ, em có khả năng quán xuyến gia đình một cách hoàn hảo.

Người ta dạy cho những bé gái về tam tòng, tứ đức: Tam tòng gồm: con gái phục tùng cha, người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con trai khi người ấy trở thành chủ gia đình; tứ đức là đức vâng lời, khiêm nhường, cẩn trọng lời nói, yêu lao động. Người ta vun đắp trong trái tim nhạy cảm của người con gái một tâm hồn bác ái, thích chăm sóc những người ốm trong gia đình bằng sự hy sinh và kiên trì kỷ luật. Cha mẹ già là những người được chăm sóc ân cần nhất, người chồng tìm thấy những người vợ tận tuỵ nhất, con cái có được người mẹ luôn lo lắng cho hạnh phúc của chúng. Người con gái – người phụ giúp quý giá của mái ấm gia đình, chỉ rời khỏi sự ràng buộc khi họ kết hôn, và cũng chỉ để chuyển từ quyền uy này sang quyền uy khác: người chồng, như chủ nhân mới của nàng.

Theo một câu thành ngữ An Nam, hôn nhân mang đến cho người con gái 12 cơ hội: “Thân con gái mười hai bến nước: cầm, kỳ, thi, hoạ, xạ, nghệ, thợ, sổ, sĩ, nông, công, thương”. Tức là 12 nghề nghiệp của người chồng: nhạc công, kỳ thủ, thi sĩ, hoạ sĩ, xạ thủ, nghệ nhân, thợ thủ công, người làm sổ sách, nho sĩ, nông dân, thợ làm công, thương nhân. Ai cũng biết rằng ở An Nam, cô dâu không mang theo của hồi môn; trái lại, bằng tài sản riêng hoặc sức lao động của mình, chính người chồng phải chứng minh trước cha mẹ vợ tương lai rằng mình có địa vị đủ vững để gánh vác trách nhiệm với người vợ và khả năng có thể lập gia đình. Chính người chồng phải trao một khoản tiền, như một món quà tận tay cha mẹ cô dâu. Như vậy, ngay cả thời điểm rời khỏi gia đình mình, người con gái An Nam vẫn là người mang lại lợi ích cho cha mẹ.

“Một nhánh đậu, sớm nở hoa, muôn cây ngàn cỏ cũng đều toả hương”. Một bông hoa khi nở rộ sẽ lan toả hương thơm đến tất cả cây cỏ xung quanh.

2. Người vợ

Là người chủ có quyền tuyệt đối với gia đình mình gây dựng, thực tế, người chồng lại không hoàn toàn là chủ của những người phụ nữ mà họ cưới làm vợ – mà phải nói đúng hơn: những nhân tình hợp pháp của người chồng.

Người ta đều biết rằng phương Đông là xứ sở của chế độ đa thê. Tuy nhiên, địa vị của người phụ nữ trong hôn nhân lại khác nhau, tuỳ thuộc vào việc họ là vợ chính (vợ lớn) hay vợ thứ – người thiếp hợp pháp (vợ bé).

Người vợ chính – người được cưới về đầu tiên, người mà bậc phụ mẫu sắp xếp cho chàng trai An Nam mà chàng trai không hề được tự chọn hay chỉ định. Trong các gia đình lớn, việc đính hôn thường xuyên được định sẵn ngay từ khi con trẻ còn trong nôi. Dù bằng cách nào, người chồng và người vợ lớn đều được cha mẹ hai bên sắp đặt cho nhau, và theo bổn phận vâng lời cùng các nghi lễ, họ bày tỏ sự chấp thuận của mình mà không được phản đối. Tuy vậy, Lễ kinh quy định, không cử hành hôn lễ trước 14 tuổi đối với con gái và 16 tuổi đối với con trai. Các cuộc hôn nhân chính thức hầu như luôn diễn ra giữa những người trẻ vừa mới bước sang tuổi dậy thì. Quả vậy, người An Nam lo sợ con cái mình có những hành vi vượt khuôn phép, và chính vì thế họ cho con kết hôn rất sớm. Như một câu tục ngữ của người An Nam: “Gái không chồng như thuyền không lái, trai không vợ như ngựa không cương”.

Những người phụ nữ ở miền Bắc khoảng năm 1884-1885. Ảnh: Charles-Édouard Hocquard.

Mỗi lần bắt đầu thương lượng về cuộc hôn nhân, luật quy định rằng mọi khiếm khuyết về thể chất, thể trạng, và trong tất cả các trường hợp, tuổi tác nhiều hay ít của đôi bên, tình trạng huyết thống – cùng dòng họ hay thuộc nhánh khác, đều được chỉ rõ cho gia đình hai bên, để mỗi bên đều hành động khi biết sự thật đầy đủ và có ý chí riêng của mình.

Việc hôn nhân của con gái cũng như con trai đều phụ thuộc vào người cha, rồi đến ông nội hoặc ông ngoại. Nếu không còn bậc trưởng tôn trực hệ thì những người thân khác đã trưởng thành sẽ thay thế. Một khi cha mẹ đồng thuận, đôi vợ chồng tương lai, dù có thể chưa bao giờ gặp mặt, sẽ được thông báo về quyết định ấy và được yêu cầu chuẩn bị kết hôn theo dự định. Người ta tổ chức một bữa cỗ linh đình để thiết đãi người cha của chú rể và những người mai mối cho hôn lễ, và trong bữa đó, cuộc hôn nhân chính thức được công bố. Phần con cái chỉ còn biết vâng lời.

Sau khi tổ chức tiệc đính hôn, dù trước đó người con gái có vui vẻ, hoạt bát, tinh nghịch đến đâu, giờ cũng phải theo khuôn phép lễ nghi, trở thành người nghiêm trang, nàng chấm dứt mọi cuộc chơi, không còn xuất hiện nơi rạp hát nữa. Đã đính hôn, nàng lui khỏi đời sống xã hội, dường như sống trong giai đoạn cách ly nghiêm ngặt nhất, lại hơi giống nữ tu ẩn dật, như một nụ hồng đang chờ ánh bình minh để nở rộ lộng lẫy.

Lễ đính hôn cử hành trước lễ thành hôn một đến hai năm. Trong thời gian giữa hai lễ ấy, chú rể tương lai không được phép lui tới nhà vị hôn thê của mình; thường phải đến ngày cưới chàng mới nhìn thấy nàng lần đầu tiên; tuy vậy, cứ mỗi dịp lễ đến, cha của chú rể sẽ tới mang quà cho cô con dâu tương lai. Tuỳ vào địa vị xã hội của hai gia đình, quà lễ có thể là những tấm lụa gấm với hình thêu tinh xảo, nhẫn trạm trổ công phu, chuỗi vòng bằng vàng hoặc đá đen, chuỗi hạt hổ phách, đồ trang sức đủ loại; khiêm tốn hơn thì có vịt, ngỗng, gà, trứng vịt, những miếng thịt heo quay bóng bẩy, cùng trái cây, rau củ và thêm cả những con cá.

Nghi lễ hôn nhân mang đậm tính chất phụ hệ. Chính quyền Pháp yêu cầu người An Nam bắt buộc phải khai báo hôn nhân với bên hộ tịch, giống như làm giấy khai sinh; nhưng người thị trưởng không cử hành hôn lễ, mà chính người cha của gia đình sẽ làm việc đó. Viên chức hộ tịch chỉ được mời đến để ghi chép, đăng ký cho sự việc đã hoàn tất, thường là một vài ngày trước khi nhận được tin báo.

Người An Nam chi tiêu rất hào phóng cho cuộc hôn nhân chính thất. Hoa, trang sức, đoàn rước long trọng, hương trầm, pháo hoa, tiệc tùng, các buổi diễn nhạc hay hát bội, tất cả đều nhất mực trang nghiêm và đáng đồng tiền. Chú rể tương lai long trọng tới nhà vị hôn thê. Trước ngưỡng cửa, chàng phủ phục ba lần. Cha vợ đang chờ sẵn, đưa chàng vào gian thờ tổ tiên để hai người cùng khấn vái. Khi hai người đang tĩnh tâm bái các vị tổ tiên, cô dâu tương lai mặc áo màu đỏ – màu sắc được quy định cho áo cưới, đeo đầy trang sức, chậm rãi băng qua gian nhà và đi vào khuê phòng. Đó là lần gặp gỡ đầu tiên của đôi vợ chồng.

Chàng quỳ gối, dâng lên một chiếc mâm đồng nghi ngút khói hương cùng những lễ vật mà chàng mang đến: những đinh vàng, thoi bạc và xâu tiền đồng và khi ấy, chàng xin cha vợ được phép cưới con gái của ông. “Hãy làm điều con muốn, con rể của ta”, người cha đáp lời; chàng trai vén tấm lụa màu đỏ che mặt người con gái, nắm tay người vợ của mình, rồi cả hai cùng quỳ xuống trước hai họ để nhận lễ chúc phúc. Tại thời khắc ấy, họ chính thức trở thành vợ chồng. Hai người làm lễ lạy tất cả các bậc trưởng bối trong họ, sau khi các nghi thức này kết thúc, họ cùng nhau khấn vái tổ tiên. Tiếp đó, họ ngồi chung một bàn, cùng chia chiếc bánh nếp và cùng nhấp môi chung một chén trà. Cuối cùng, sau khi nhận lời chúc tụng từ bạn bè, đôi uyên ương lui vào trong. Cha mẹ và thân hữu ăn mừng lễ cưới trong nhiều ngày; tuy nhiên, chi phí bỏ ra không quá lớn, bởi khi ra về, mỗi người tham dự đều đặt vào một chiếc mâm những tấm thiệp đỏ của mình, kèm theo một khoản tiền để góp vào chi phí tổ chức hôn lễ.

Một đám cưới được tổ chức long trọng ở Mỹ Tho những năm 1920 – 1929. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương

Nếu trong mỗi gia đình chỉ có duy nhất một người vợ lớn thì ngược lại, số lượng những người vợ bé có thể tuỳ vào ý muốn của người chồng mà có ít hay nhiều. Họ được cưới nhưng không đi kèm những nghi lễ long trọng. Là những người phụ nữ được cưới vì cảm xúc, người con trai được tự do lựa chọn sau khi tiến hành cuộc hôn nhân đầu tiên và không còn những ràng buộc sắp đặt hôn nhân từ cha mẹ nữa. Chỉ cần cha mẹ chấp thuận, một khoản tiền và một bữa cơm gia đình là đủ cho lễ kết hôn một người vợ thứ.

Vợ bé là người phụ nữ để thương yêu, vợ lớn là người phụ nữ của lý trí. Người vợ lớn điều hành tất cả những người vợ khác, và mọi người đều phải kính trọng nàng. Theo lễ nghi, người vợ lớn ngang hàng với chồng, còn vợ thứ chủ yếu là người hầu hạ. Vợ lớn gọi chồng mình là “chồng”, trong khi vợ thứ gọi là “ông” – tức ngài, đặt người chồng là người chủ. Theo luật An Nam, người chồng nào đối xử với vợ chính như vợ thứ sẽ bị phạt 100 trượng. Nếu khi người vợ chính còn sống mà người chồng lại nâng một vợ thứ lên địa vị này thì người chồng sẽ bị phạt 90 trượng. Tương tự, đàn ông không được có hai chính thất. Nếu vi phạm, chàng ta sẽ bị phạt 90 trượng, cuộc hôn nhân thứ hai đó bị huỷ bỏ, đó là chế độ song hôn kiểu phương Đông.

Người phụ nữ An Nam lanh lợi, tỉnh táo, tư duy lại có sự tinh tế hiếm có, tính cách vui vẻ cùng diện mạo duyên dáng. Dù phải chấp nhận chế độ đa thê, khi ghen tuông, nàng vẫn kiêu hãnh như một nữ chủ nhân, và quyến rũ hết mức có thể. Vẻ đẹp của người phụ nữ An Nam không nằm ở thân hình tròn trịa đẫy đà như quan niệm về phụ nữ của người Trung Hoa mà trái lại, nằm ở sự dẻo dai, ở dáng người thanh mảnh, vòng eo thon, đôi mắt đen láy, dài và xếch, làn da mờ mờ nhạt đều, mái tóc đen như màn đêm kết thành những bím tóc dày, đôi bàn tay mềm mại, những bàn tay nhỏ với các ngón tay thon dài, điểm xuyết bằng phần móng tay dài cong; đôi chân gân guốc, cổ chân rất mảnh, đôi bàn chân nhỏ, cong cong, và để thêm phần duyên dáng, họ mang những đôi guốc mộc rất nhỏ. Người phụ nữ An Nam không vì thói sính hình thức mà giam hãm đôi bàn chân quý báu của mình trong những chiếc giày bó nhỏ bé và hành hạ như phụ nữ Trung Hoa.

Các loại guốc người phụ nữ Nam Kỳ sử dụng. Tranh do các học sinh trường vẽ Gia Định vẽ những năm 1930. Nguồn: Sách Ký hoạ về Đông Dương Nam Kỳ tập 2 (Monographie dessinée de l’Indochine. Cochinchine. Tome II) xuất bản năm 1935

Người con gái An Nam, cũng như người Paris, ham vui thú, mê hội hè, ưa các hoạt động ngoài trời. Nàng không chịu để mình ngồi lặng yên như một tiểu thư Nhật Bản trong quán trà hay trên thuyền hoa. Nàng cần vẻ tự do trong dáng điệu và cả trong các mối quan hệ của mình nữa.

Nàng chỉ hiếm hoi xuất hiện trong những cuộc tụ họp toàn đàn ông nếu như ông chồng yêu cầu, còn không, nàng đi dạo một mình, tự do ngoài phố; nàng thăm hỏi bạn bè và đón tiếp bạn tại nhà trong những buổi thưởng trà thoang thoảng hương nhài, cùng nhau hút vài điếu thuốc tẩm chút thuốc phiện, nhai trầu và buôn chuyện rôm rả không kém ai. Một trận đá dế, một cuộc đấu cá trong bể hay thậm chí một cuộc thưởng hoa cũng đủ làm lý do cho buổi tụ họp.

Niềm say mê những cuộc vui xa hoa đôi khi lại đưa người phụ nữ An Nam đến những sự phô trương. Nàng hân hoan khi cổ đeo đầy những chuỗi dây chuyền và vòng, ngón tay đeo đầy nhẫn, cổ tay trĩu vòng, mái tóc xuyên đầy trâm và san hô. Nàng dành niềm yêu thích đặc biệt cho trang sức vàng bạc chạm trổ, những đồ được khảm xà cừ, ngọc bích, san hô, đá quý màu đen và ngà voi; những ghim cài làm từ móng hổ, cúc áo trong như mắt mèo và những dây đồng hồ dài kết bằng vàng. Chỉ có đôi tai là dùng lối trang điểm khiêm nhường, được tô điểm tinh tế bằng chiếc khuyên bằng vàng nhỏ, đầu chạm hoa văn.

Phụ nữ An Nam cũng tỉ mỉ trong ăn mặc, không kém phần khắt khe so với việc chọn trang sức. Nàng chỉ ưng những đôi guốc bằng lụa dệt hoa hoặc nhung thêu, nàng muốn chúng phải xinh xắn, thật nhỏ, nhỏ hơn cả bàn chân búp bê của nàng. Chiếc quần thắt bằng dải lụa mềm rủ có màu sắc tươi tắn, là loại quần ống rộng, óng mượt, rủ xuống ngay trên mắt, để lộ chiếc vòng bạc ôm lấy cổ chân. Quần được may bằng vải lanh, mềm hơn cao su, mát hơn cả đá cẩm thạch đánh bóng.

Trong những dịp lễ quan trọng, nàng mặc nhiều lớp áo dài nhẹ bằng lụa dệt hoa, nhiều màu sắc với những lớp áo hồng, trắng, xanh lá, và lớp ngoài cùng luôn là màu đen hoặc màu rượu vang nhưng hơi trong. Những chiếc áo ấy có tay áo bó gọn, cổ áo thẳng, tà xẻ từ ngang hông xuống tận gấu để khi bước đi những lớp áo phía trong cũng được nhìn thấy.

Đung đưa cánh tay theo nhịp đều đặn, mỗi bước chân khẽ nâng lớp lụa ống của những tà áo, những nét duyên dáng của đôi chân với chiếc quần thướt tha, người phụ nữ An Nam bước đi chậm rãi, rất đỗi đoan trang. Dáng đi của nàng có vẻ ung dung nhưng cũng phảng phất nét kiểu cách, dưới vẻ điềm đạm trau chuốt ấy, nàng vẫn giữ sự mềm mại vốn có của phương Đông.

Ở Bắc Kỳ, người phụ nữ quấn khăn xếp trên đầu, còn ở Nam Kỳ chỉ là chiếc khăn lụa đơn giản, thắt hờ phía dưới cằm. Trong ngày cưới và những ngày đại lễ, nàng đội một chiếc mũ tròn, bẹt, làm bằng rơm, trông như chiếc nắp lớn có vành rủ, hai bên có những dải tua dài làm bằng những sợi lụa màu khác nhau. Nàng say mê dùng ô, nhất là ô kiểu châu Âu, có cán bằng thanh thép mảnh; quạt lông đà điểu hoặc có ren, khăn tay lụa, không thể thiếu phấn son và nước hoa.

Những người phụ nữ bình dân thì giản dị hơn; trang phục của họ gồm chiếc quần và cái áo, thường chỉ có một chiếc áo duy nhất. Đôi khi vì mệt mỏi do lao động nặng, họ chỉ đơn giản quấn quanh người một dải vải trắng. Trang sức của họ phần nhiều là những sợi dây mây bện lại, hoa tai cũng nhỏ bằng đinh hương. Chân họ để trần, ngón tay không đeo nhẫn, tóc chẳng cài trâm. Nhưng dù nghèo đến đâu, họ cũng luôn tìm được cách để cuốn thuốc hút và đôi môi lúc nào cũng thắm đỏ do nhai trầu.

Quả cau, vôi và lá trầu – ba thứ luôn được người An Nam thưởng thức, là chất ngăn ngừa hiệu quả chứng nghiện rượu. Một miếng trầu cũng đủ làm dịu cơn khát. Ngoài đồng lúa, những người phụ nữ cấy mạ; khi không bận việc đồng áng, họ chặt mía, guồng tơ; ngoài đường, họ mang đồ từ vườn nhà hoặc chuồng trại ra chợ bán; trong túp lều tranh, họ dệt vải, dùng chày giã gạo, cuốn lá thuốc… Ở đâu cũng thấy người phụ nữ An Nam luôn bận rộn, siêng năng. Họ chính là những con ong, đúng như mô tả một người vợ lý tưởng: “Nàng nên giống như một con ong chúa, hiếm khi ra khỏi nhà, giám sát người giúp việc chặt chẽ, phân công các công việc khác nhau, phân bố lương thực và sắp xếp gọn gàng, cất giữ cẩn thận những thứ chưa dùng đến, thu xếp ngăn nắp đồ dùng trong bếp và giữ chúng sạch sẽ…”

Nếu không có người chồng suốt ngày thô bạo hay nghiện thuốc phiện mà làm tổn hại đến những phẩm chất tự nhiên ấy, nếu tình trạng hỗn loạn vì thua bạc không xâm nhập vào gia đình và nếu nghèo tùng, vốn là kẻ đồng hành với những thói hư kia, không phá vỡ nề nếp gia đình thì người vợ chính vẫn sẽ là người vợ đáng kính và là người mẹ tần tảo nhất. Như thành ngữ An Nam đã nói: “phu xướng, phụ tuỳ”. Người vợ noi theo nề nếp của người chồng.

3. Người mẹ

Khi trở thành người mẹ, người phụ nữ An Nam sẽ có địa vị hơn hẳn. Theo giáo dục từ gia đình, ngay từ đầu nàng đã được chuẩn bị cho thiên chức làm mẹ.

Tôi không nghĩ rằng có thể tìm thấy ở Đông Dương nhà nào mà không có con cái. Ngay cả trường hợp nhà có một con cũng rất hiếm, trừ khi dịch tả khủng khiếp quét ngang nhà đó, điều mà tôi tin là cũng hiếm hoi. Trái lại, những gia đình có chục người con là điều phổ biến. Chính vì thế, cũng giống người Do Thái ngày xưa, ở An Nam, phụ nữ hiếm muộn là điều đáng chê trách. Đối với người thân và ngay cả với chính bản thân mình, họ cảm thấy mình không còn là phụ nữ, và như thể đang gánh chịu một hình phạt, một nỗi ô nhục. Còn những cô gái ở vậy không chồng, không quá lời khi nói rằng trường hợp này hầu như không tồn tại.

Ở Đông Dương, hôn nhân phổ biến đến mức không có lý do nào để một cô gái độc thân, cũng chẳng có lý do nào mà một người con trai không cưới người con gái mà mình mong muốn. Luật pháp, nghi lễ, phong tục đều ủng hộ hôn nhân và việc duy trì dòng dõi. Quyền hợp pháp cho phép người chồng có nhiều vợ giải quyết được vấn đề con ngoài giá thú hay gần như không còn các cô gái quá lứa lỡ thì. Hãy thử hỏi một người An Nam xem họ thấy thế nào là con ngoài giá thú, họ sẽ không hiểu câu hỏi và trả lời rằng tất cả trẻ em đều là con hợp pháp.

Thật vậy, trong xứ thuần nông nghiệp như Đông Dương, gia đình đông con cũng là gia đình giàu có. Đứa trẻ hầu như không tạo ra gánh nặng tiền bạc cho người nông dân, bởi ngay khi đến tuổi lao động, nó đã đóng góp cho tài sản chung của gia đình bằng sức lực và tuổi trẻ của mình – giá trị mà một người làm công ăn lương không bao giờ sánh kịp. Bởi vậy, trẻ em luôn được chào đón trong các gia đình người An Nam. Những bà mẹ coi việc tự tay cho con bú là một niềm danh dự. Và nghề nhũ mẫu – theo cách hiểu của Brieux, là điều xa lạ trong các cộng đồng An Nam, ngay cả những phụ nữ châu Âu ở đây cũng không tìm nhũ mẫu cho con của mình.

Nhìn những đứa nhỏ chạy nhảy quanh nhà với niềm vui tràn đầy chính là hình ảnh phản chiếu rõ ràng cho tình cảm gia đình đang bao bọc chúng. Chắc chắn chúng sẽ không bị mang ra chợ làng để bán đi, hay theo như tin đồn vô lý mà người ta hay tin ở châu Âu – bị đem cho lợn ăn. Nếu đánh một đứa trẻ, người cha sẽ phải chịu hậu quả. Người mẹ sẽ can thiệp, tiếng kêu la và cơn giận dữ của bà sẽ thu hút hàng xóm, thường thì chỉ cần thế là đủ xáo trộn trật tự công cộng.

Người vợ cả là đích mẫu, tức người mẹ chính thức của tất cả những người con của chồng, kể cả con do bà sinh ra cũng như con của những người vợ khác sinh. Các vợ bé chỉ là đích mẫu với người con mà họ sinh ra. Tuy nhiên, sự phân biệt này có vẻ không tồn tại trong ánh mắt trẻ thơ, cũng như trong mối quan hệ của chúng với người cha. Tất cả đều là con hợp pháp và bình đẳng. Thuở ban đầu, con gái không có quyền gia đình và thừa kế như con trai; nhưng từ lâu, họ đã giành được quyền bình đẳng, và đến nay quyền lợi của họ ngang bằng với các anh em trai. Tất cả con cái đều phải tuân theo uy quyền của người cha. “Trưởng ấu hữu tự” – trên dưới đều có vị trí của mình, lớn nhỏ đều theo trật tự.

4. Ly hôn

Theo gia quy thì không có khái niệm về ly hôn mà chỉ có sự ruồng bỏ, bởi quyền chấm dứt hôn nhân do người chồng một tay nắm giữ. Những nguyên nhân khiến người đàn bà bị đuổi đi gồm: vô sinh, tính nết xấu, thiếu kính trọng cha mẹ chồng, lắm lời, nói xấu, gièm pha, trộm cắp, ghen tuông. Người vợ không được vô sinh vì mục đích của hôn nhân là sinh con nối dõi. Nàng phải giữ mình đoan trang để làm tròn bổn phận với chồng và phải luôn tỏ ra tuyệt đối kính cẩn những bề trên của mình. Tật lắm lời và thói gièm pha làm rối loạn sự yên ổn của gia đình và khiến gia đình gặp rắc rối với người ngoài. Trộm cắp là nỗi nhục, đủ khiến người vợ mang tội và bị đuổi khỏi nhà. Còn theo quan niệm của xã hội đa thê, ghen tuông không nên tồn tại. Tuy nhiên, vẫn có thể thấy rằng rất nhiều phụ nữ An Nam hay ghen, bất chấp nghi lễ cấm họ, vì bản tính nữ giới luôn có xu hướng đòi hỏi bình đẳng trong hôn nhân.

Khi người chồng xác định người vợ phạm phải một trong số những lỗi lầm trên, nàng sẽ bị đuổi đi, hay nói cách khác, là trở về với nguồn cội, tức quay lại gia đình cha mẹ đẻ. Người chồng sẽ đưa nàng một tờ giấy có xác nhận của lý trưởng hoặc một chức sắc trong làng, với nội dung tuyên bố rằng cuộc hôn nhân đã bị ông huỷ bỏ, và rằng mọi ràng buộc giữa ông và người phụ nữ này đều cắt đứt theo ý chí của ông.

Tuy vậy, người vợ vẫn có quyền tái giá. Nàng cũng có thể khiếu nại quyết định của chồng lên quan, vị quan sẽ triệu hai người tới, điều tra nguyên nhân, nếu phát hiện người chồng lạm quyền, ông ta sẽ bị phạt 80 trượng và phải tiếp tục chung sống với vợ của mình. Ngoài ra, trong các trường hợp sau, người chồng không được phép ruồng bỏ:

– Nếu người vợ đã để tang cha mẹ chồng ba năm.

– Nếu vợ chồng cưới nhau lúc nghèo khó, sau đó nhờ chung sống mà trở nên giàu có.

– Nếu người vợ không còn người thân ruột thịt nào để nương tựa.

Ngược lại, việc từ bỏ là bắt buộc nếu người vợ ngoại tình, hoặc người chồng sẽ bị phạt đánh, trong trường hợp này, quan lại sẽ trực tiếp can thiệp và phạt người chồng 80 trượng nếu ông không chủ động bỏ vợ. Cuối cùng, nếu tính khí không hoà hợp thì có thể bỏ vợ nhưng cần có điều kiện. Với trường hợp này, việc từ bỏ chỉ có thể diễn ra khi người vợ đồng ý.

Đó là ly hôn do hai bên đồng thuận.

Người phụ nữ không có quyền bỏ chồng. Người nào tự ý rời khỏi nhà chồng khi chưa ly hôn sẽ bị phạt 100 trượng và người chồng có quyền gả nàng cho người khác hoặc bán làm vợ lẽ của người khác. Nếu người phụ nữ bỏ trốn và tái giá, nàng sẽ bị xử tử bằng cách thắt cổ. Ngược lại, nếu chính người chồng bỏ trốn, người vợ phải chờ 3 năm liền, nếu không có tin tức thì nàng mới được xin phép quan cho ly hôn, với điều kiện cha mẹ nàng không hoàn trả lễ vật cưới. Khi đó, nàng có thể tái giá, và nếu người chồng đầu quay trở lại thì ông ta không có quyền phản đối quyết định ly hôn ấy nữa.

5. Goá phụ

Khi người chồng qua đời, các ràng buộc pháp lý của hôn nhân hợp pháp trong xã hội An Nam không mất đi. Người vợ vẫn giữ nguyên địa vị chính thất trong gia đình người chồng đã khuất. Hơn tất cả những người thừa kế khác, kể cả con ruột hay con nuôi, chính nàng là người có quyền quản lý toàn bộ tài sản của chồng mình, và được phép sử dụng hoàn toàn mọi khoản thu từ tài sản thừa kế cho nhu cầu cá nhân. Nàng thay thế người chồng quá cố trong vai trò đứng đầu gia đình.

Do vậy, quyền dụng ích trao cho người vợ goá không bị hạn chế, trừ duy nhất một điều, đó là hương hoả (ruộng đất thờ tự), vốn không thể giao cho người vợ, vì người thụ hưởng phần này phải đảm nhiệm những nghi lễ chỉ dành cho nam giới. Khi người cha mất, con trai trưởng của dòng chính sẽ đảm nhận việc thờ cúng tổ tiên, và khi ấy, người mẹ phải kính trọng và đồng thuận với con trai mình xét ở cương vị đó.

Một gia đình An Nam giàu có với 5 người con trai. Ảnh chụp bởi Pierre Dieulefils khoảng năm 1896-1897.

Ngoài hương hoả không được thừa kế thì người vợ có quyền hưởng dụng hợp pháp với toàn bộ tài sản của chồng, và có quyền quản lý rộng tới mức khi cần thiết, đồng thời được trưởng tộc cho phép, nàng có thể bán toàn bộ hoặc một phần tài sản đó. Cuối cùng, quyền hưởng dụng hợp pháp chỉ chấm dứt khi người vợ qua đời hoặc tái giá.

Đối với người vợ bé, họ chỉ có quyền được trợ cấp sinh hoạt và nuôi dưỡng chừng nào họ còn ở vậy, nếu tái giá, họ sẽ mất khoản trợ cấp này. Khi họ không còn là goá phụ, pháp luật coi rằng người chồng mới đã đảm nhận việc đó. Cũng bởi người phụ nữ An Nam luôn trong tình trạng bị giám sát nên dù từng là chính thất hay vợ thứ, khi đã trở thành goá phụ, chỉ khi gia đình của người chồng đầu tiên cho phép, họ mới có thể tái giá. Xét theo nghĩa nào đó, nàng trở thành con gái nuôi của gia đình chồng kể từ khi kết hôn bước vào gia đình ấy, chính cha mẹ chồng sẽ nhận lễ cưới của cuộc hôn nhân mới, tương tự luật Salic của người Pháp. Khoản tiền này để đổi lấy sự yên ổn với cha mẹ của người chồng đầu, để họ im lặng và chấp nhận.

Ở xứ An Nam, xét theo lễ nghi, nếu trong gia đình người chồng đã mất không còn ai đủ tư cách để chấp thuận cuộc tái hôn thì người goá phụ có thể tái giá khi cha mẹ ruột đồng ý. Nếu cha mẹ ruột cũng qua đời, nàng được tự do quyết định. Tuy vậy, sự tự do này cũng rất mong manh, để tránh yếu lòng trước những cám dỗ cũng như để hành xử cho đúng mực, nàng sẽ xin ý kiến quan lại nơi cư trú hoặc các kỳ mục trong làng. Nàng luôn nghe theo lời khuyên ấy nếu nàng coi trọng danh dự cá nhân, vì quan lại và các chức sắc địa phương được coi như những người cha của dân chúng, và những quyết định của họ trong các vấn đề gia đình là biểu hiện của trí tuệ và lẽ phải.

6. Qua đời

Đối với người An Nam, sau lễ hôn nhân thì nghi lễ mang tính trang nghiêm nhất chính là đám tang.

Khi qua đời, tang lễ tương xứng với địa vị trong gia đình của người phụ nữ An Nam được cử hành. Người ta chuẩn bị quan tài khi người phụ nữ hấp hối, người được giao trông coi và giám sát việc đóng quan tài sẽ đặt nó trong gian thờ tổ tiên, phủ một tấm lụa trắng. Xung quanh là nến đỏ và lư đốt hương trầm.

Các thân nhân lần lượt đến quỳ lạy trước linh cữu, sau khi lạy xong, họ ở lại trong nhà để giữ tang. Cuối cùng, họ tổ chức lễ an táng nghiêm trang, có các đoàn tiễn đưa gồm các nhà sư, người khóc thuê và thổi kèn, kèm những tiếng khóc than của thân quyến. Cha mẹ, anh chị em của người phụ nữ để tang một năm, giống khi người con trai hay người cha qua đời. Người chồng cũng phải để tang người vợ. Riêng con cái thì để tang mẹ trong ba năm. Như một câu thành ngữ của người An Nam: “Lạc diệp quy căn”.■

Paul d’Enjoÿ

Lê Hằng Nga (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN