Người ông chậm rãi thắp nhang trên bàn thờ tổ tiên, đứa cháu nội năm tuổi tròn mắt đứng bên nhìn ông khấn vái. Ngoài sân, người bà trở cặp bánh chưng xanh vừa vớt khỏi nồi. Trong tiết trời se lạnh cuối năm, cả gia đình nhiều thế hệ sum vầy, ai nấy rạng rỡ chuẩn bị đón giao thừa.
Cảnh sum họp ấm áp ấy không chỉ diễn ra tại một gia đình. Trên khắp các miền quê tới thành phố phường ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước châu Á, hàng triệu gia đình háo hức chờ khoảnh khắc giao mùa linh thiêng. Mỗi độ xuân về, Tết Âm lịch – hay Tết cổ truyền – lại gõ cửa từng mái nhà phương Đông, mang theo niềm hân hoan đoàn viên và những giá trị văn hóa đã thấm sâu vào tâm hồn bao thế hệ.
Từ xa xưa, người Á Đông sử dụng lịch âm, do đó năm mới truyền thống của họ bắt đầu vào ngày mồng 1 tháng Giêng âm lịch. Khác với Tết Dương lịch gói gọn trong một ngày, Tết Âm lịch thường kéo dài nhiều ngày với nhiều nghi thức truyền thống nối tiếp. Tết âm hay còn gọi là Tết Nguyên Đán là cách gọi truyền thống của người Á Đông để chỉ ngày đầu tiên của một năm mới. Nguyên là khởi nguyên, là sự bắt đầu. Đán là buổi bình minh. Theo truyền thống, Tết là một chỉ dấu thời điểm trời đất bắt đầu một chu kỳ mới.
Các nhà sử học cho rằng Tết Âm lịch bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp cổ đại. Tại Trung Quốc – cái nôi của văn hóa Á Đông – lễ mừng năm mới âm lịch đã có từ hàng nghìn năm trước, khởi đầu như lễ tế tạ trời đất sau mùa thu hoạch và tưởng nhớ tổ tiên. Dần dần, Tết Nguyên Đán trở thành lễ hội lớn nhất năm, đánh dấu thời điểm cây cối đâm chồi nảy lộc, vạn vật hồi sinh khi mùa xuân tới. Người xưa coi vòng tuần hoàn một năm như khép lại một chu kỳ cũ và mở ra chu kỳ mới, nên khoảnh khắc chuyển giao đó vô cùng thiêng liêng.
Trong nhiều thế kỷ, hầu hết các quốc gia Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc đều đón năm mới theo lịch âm. Mãi đến thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, một số nước mới chuyển hẳn sang dùng lịch dương. Nhật Bản là ví dụ tiêu biểu: từ năm 1873 (thời Minh Trị), nước này đã bỏ Tết âm lịch và chỉ mừng năm mới vào ngày 1/1 dương lịch. Tuy nhiên, tại Việt Nam và Trung Quốc, dù xã hội hiện đại vận hành theo lịch dương, Tết Nguyên đán vẫn được duy trì như một phần cốt lõi của bản sắc văn hóa. Ngày nay, cả hai quốc gia đều song song tồn tại “hai cái Tết”: Tết Dương lịch đón năm mới theo quốc tế, và Tết Âm lịch cổ truyền – dịp lễ đoàn viên quan trọng nhất trong năm của dân tộc.
Tết Nguyên Đán trong tâm thức người Việt
Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán không chỉ là một ngày lễ, mà là khoảng thời gian thiêng liêng nhất trong năm, hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Tết đánh dấu sự kết thúc năm cũ và mở ra năm mới với biết bao hy vọng. Mỗi người con xa quê dù đi đâu, làm gì cũng mong được trở về sum họp cùng gia đình trong dịp này. Từ lâu, hai tiếng “về nhà ăn Tết” đã gợi lên cảm xúc ấm áp và thân thuộc trong lòng mỗi người Việt.
Suốt nhiều tuần trước Tết, không khí chuẩn bị rộn ràng khắp nơi. Người người nhà nhà tất bật dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa với mong muốn “xua đi điều cũ, đón điều mới”. Bàn thờ tổ tiên được lau dọn kỹ lưỡng, mâm ngũ quả bày biện tươi tắn dâng cúng. Nhiều gia đình cũng làm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời ngày 23 tháng Chạp như một nghi thức tiễn năm cũ đã in sâu trong tiềm thức dân gian. Cận Tết, chợ hoa xuân nhộn nhịp người mua kẻ bán; khắp nơi rực rỡ sắc đào, mai, ai nấy cũng tậu hoa kiểng mong một năm mới phát tài, như ý.

Chiều 30 Tết, gia đình quây quần nấu mâm cơm tất niên, cùng nhau ăn bánh chưng, bánh tét – những món bánh truyền thống không thể thiếu. Đêm giao thừa, khi đất trời giao hòa sang năm mới, cả nhà thành kính thắp hương mời ông bà tổ tiên cùng về đón Tết với con cháu. Mọi người chắp tay nguyện cầu năm mới an lành, tưởng nhớ công ơn nguồn cội và trân trọng giây phút được đoàn tụ bên nhau.
Ba ngày Tết chính là thời gian sum họp và thăm viếng. Những ngày đầu năm, con cháu người Việt lần lượt đi chúc Tết họ hàng nội, ngoại và thầy cô giáo cũ để bày tỏ lòng biết ơn. Tục “xông đất” đầu năm cũng rất được coi trọng: gia đình luôn mong một vị khách hợp tuổi, vui vẻ đến xông nhà đầu tiên để cả năm gặp may mắn. Người lớn thì mừng tuổi cho trẻ nhỏ phong bao lì xì đỏ, bên trong có một ít tiền mới gọi là lộc đầu năm kèm lời chúc ngoan khỏe, hay ăn chóng lớn. Tất cả những phong tục ấy – từ lời chúc, mừng tuổi đến mâm cỗ đoàn viên – đều gửi gắm ước vọng về một năm mới đủ đầy hạnh phúc, đồng thời thắt chặt thêm tình cảm gia đình và tình làng nghĩa xóm.
Cũng cần hiểu về Tết của dân tộc Trung Hoa để thấy sự tương đồng và yêu thêm Tết Việt. Đối với dân tộc Trung Hoa, Tết âm lịch – thường gọi là Lễ Xuân (Xuân Tiết – 春节) – là dịp lễ quan trọng và thiêng liêng bậc nhất. Ngay từ đầu tháng Chạp, khắp nơi đã rộn ràng không khí “dọn dẹp đón Tết”: mọi nhà quét tước sạch sẽ với niềm tin xua đi vận rủi để chào đón may mắn. Những phiên chợ xuân tấp nập trên phố phường báo hiệu năm mới sắp đến: nhà nhà treo đèn lồng đỏ trước hiên, dán câu đối với chữ Phúc (福) trên giấy đỏ để cầu phúc lộc đầy nhà. Buổi tối cuối năm (đêm trừ tịch), đại gia đình sum họp ăn bữa cơm tất niên (niên dạ phạn). Mâm cỗ thường có những món mang ý nghĩa cát tường: ví dụ như cá tượng trưng cho “dư dả”, bánh sủi cảo (há cảo) trông giống thỏi bạc cầu tài lộc… Phong tục “thủ tuế” – thức canh giao thừa – được nhiều gia đình gìn giữ để trân trọng những giờ phút cuối năm bên nhau. Đầu năm mới, người lớn cũng trao tay những bao hồng bao đỏ mừng tuổi trẻ em kèm lời chúc tốt đẹp. Sáng mùng Một, con cháu lễ bái tổ tiên, chúc Tết ông bà cha mẹ và hàng xóm láng giềng – tương tự phong tục người Việt. Những ngày tiếp theo, mọi người đi thăm bạn bè, du xuân vãn cảnh chùa. Khắp nơi rộn rã các hoạt động mừng năm mới như múa lân, múa rồng trên phố. Đến rằm tháng Giêng, lễ hội đèn lồng rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm, khép lại mùa Tết. Quan trọng nhất, ý nghĩa đoàn viên vẫn là cốt lõi: minh chứng là mỗi năm Trung Quốc chứng kiến “xuân vận” – cuộc di chuyển về quê ăn Tết lớn nhất thế giới với hàng trăm triệu người chen chúc tàu xe để kịp giao thừa bên gia đình.
Chung cội nguồn Á Đông, Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc có nhiều nét tương đồng, cho thấy sự vững mạnh của văn hoá phương Đông. Tết âm lịch là lễ hội quan trọng nhất, là dịp để mọi người hướng về gia đình và tưởng nhớ cội nguồn. Phong tục dọn dẹp nhà cửa, trang hoàng bàn thờ, tảo mộ ông bà trước Tết đều có ở nhiều nước (dù cách thức mỗi nơi khác nhau đôi chút). Trong bữa cơm tất niên và sáng mùng Một, các dân tộc Á Đông trong đó đặc biệt là Việt Nam, đều thành kính tưởng nhớ tổ tiên, mời ông bà quá cố về chung vui với con cháu. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chính là sợi dây tâm linh bền chặt, và Tết là thời điểm sợi dây ấy nối quá khứ với hiện tại rõ ràng nhất.

Dẫu vậy, mỗi nước vẫn mang bản sắc riêng trong dịp Tết. Chẳng hạn, về ẩm thực và trang trí: người Việt có bánh chưng, dưa hành, câu đối đỏ; còn người Hoa có sủi cảo, vịt quay, đèn lồng đỏ treo cao. Ở Trung Quốc, không khí Tết kéo dài đến rằm tháng Giêng với lễ hội Nguyên Tiêu (rước đèn lồng) mới kết thúc, còn người Việt thường kết thúc kỳ nghỉ sớm hơn và trở lại công việc sau mùng 7. Tuy khác biệt vài điểm về phong tục, nhưng tinh thần cốt lõi của Tết vẫn là hướng về gia đình, đề cao đoàn kết cộng đồng và hướng tới những điều tốt đẹp cho năm mới.
Giữ Tết là giữ sợi dây văn hóa
Trong thời hội nhập, thỉnh thoảng xuất hiện ý kiến cho rằng nên giản tiện hoặc thậm chí bỏ Tết cổ truyền. Lý do họ đưa ra là: nghỉ Tết dài gây gián đoạn công việc, tốn kém tiền bạc, hoặc giới trẻ ngày nay đã phai nhạt hương vị Tết xưa. Thế nhưng đa số người dân Việt Nam không đồng tình với quan điểm đó, bởi họ hiểu rằng mất Tết cổ truyền là mất đi một phần hồn cốt văn hóa dân tộc.
Thật vậy, Tết cổ truyền chính là sợi dây nối quá khứ – hiện tại – tương lai. Ông bà tổ tiên ta bao đời đều đón Tết, rồi cha mẹ truyền lại phong tục Tết cho con cháu. Nếu thế hệ hôm nay ngừng ăn Tết, chẳng khác nào cắt đứt mạch nguồn văn hóa đã chảy suốt ngàn năm. Không một ngày lễ nào khác có thể thay thế vai trò gắn kết gia đình và cộng đồng như Tết. Ngày thường, mỗi người một nơi bận rộn, nhưng đến Tết tất cả lại hướng về sum họp. Thật thiêng liêng biết bao khi người đi xa xếp hàng mua vé tàu chỉ mong kịp chuyến về quê, khi đứa trẻ háo hức chờ gặp lại ông bà, khi cả nhà quây quần bên mâm cơm tất niên ấm cúng. Những khoảnh khắc quý giá đó không tiện nghi hiện đại nào đánh đổi được.
Có người viện dẫn Nhật Bản đã bỏ Tết âm lịch mà vẫn hiện đại phát triển. Nhưng thực ra, người Nhật chỉ chuyển ngày lễ năm mới truyền thống sang Tết Dương lịch, tức họ vẫn giữ các phong tục đoàn tụ đầu năm, chỉ thay đổi ngày tháng. Còn nếu Việt Nam hay Trung Quốc bỏ hẳn Tết Âm lịch mà không thay thế bằng dịp lễ tương tự, thì khoảng trống văn hóa để lại sẽ rất lớn. Sau một năm vất vả, con người cũng rất cần khoảng lặng mùa xuân để nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng. Nhịp sống hiện đại hối hả lại càng cần những khoảng lặng ý nghĩa như thế.
Bên cạnh đó, Tết cổ truyền còn là dịp để bao nhiêu phong tục, nghề truyền thống được duy trì và hồi sinh. Nhờ có Tết mà những giá trị văn hóa lâu đời – từ chiếc bánh chưng, câu đối đỏ đến trò chơi dân gian ngày xuân – vẫn được tiếp nối qua các thế hệ. Nếu bỏ Tết, không chỉ mất đi một ngày hội, mà còn đứt đoạn nhiều giá trị văn hóa gắn liền với dịp lễ này. Nói cách khác, giữ Tết cũng chính là cách chúng ta giữ gìn bản sắc và truyền lại di sản tinh thần quý báu cho thế hệ sau.
Kết nối truyền thống và hiện đại
Dù xã hội phát triển đến đâu, Tết Âm lịch ở phương Đông vẫn trường tồn mạnh mẽ, minh chứng cho sức sống bền bỉ của truyền thống. Ngày nay, thế giới cũng dần hiểu hơn về ý nghĩa của lễ hội này. Mới đây, Tết Nguyên Đán được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, cho thấy cộng đồng quốc tế đánh giá cao giá trị của ngày lễ này.
Đối với chúng ta, mỗi độ Tết đến lại mang theo bao cảm xúc đặc biệt. Cuộc sống hiện đại có thể làm một vài thói quen xưa đổi khác, nhưng những giá trị cốt lõi của Tết vẫn vẹn nguyên. Đó là lòng háo hức mong đoàn tụ, là sự kính nhớ tổ tiên, nguồn cội, là tình yêu thương sẻ chia với người thân bạn bè, và là niềm tin lạc quan vào một khởi đầu mới tốt đẹp.

Trong tiết trời se lạnh đầu xuân, thoáng thấy cành đào, cành mai vàng chúm nở, lòng người xa quê lại nôn nao nhớ hương vị Tết quê nhà: nhớ bánh chưng xanh bên bếp lửa, nhớ câu đối đỏ trước hiên, nhớ tiếng cười trẻ nhỏ khoe lì xì mới. Tết chính là sợi dây vô hình kết nối mỗi người với gia đình, kết nối hiện tại với truyền thống cha ông. Nhờ có Tết, chúng ta càng trân trọng hai chữ “đoàn viên” và biết quý hơn những giây phút sum họp.
Tết Nguyên đán – từ bao đời nay – đã trở thành một phần tâm hồn của người phương Đông. Giữ gìn Tết cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa và chất keo gắn kết cộng đồng. Dù thời thế đổi thay, xuân vẫn về mang theo tiếng cười đoàn viên. Cứ thế, mỗi cái Tết trôi qua lại bồi đắp thêm tình người, để văn hóa dân tộc mãi trường tồn cùng thời gian.■
Phương Bình