Giao lưu văn hóa là một thuật ngữ mới, được dùng để chỉ sự trao đổi, đan xen, chia sẻ giữa các nền văn hóa. Mặc dù là một dân tộc có văn hóa nội sinh mạnh mẽ xuất phát từ cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á, nhưng ngay từ thời cổ trung đại, văn hóa Việt Nam đã có sự tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa trong khu vực và quốc tế. Cho tới ngày nay, những dấu tích văn hóa và bề dày lịch sử của hệ thống Phật giáo Tứ pháp khởi nguồn từ vùng đất Luy Lâu, rồi lan tỏa ra các vùng lân cận là một dấu ấn đặc sắc, minh chứng cho sự tồn tại của giao lưu văn hóa quốc tế trên đất nước ta từ cách đây gần hai thiên niên kỷ.
1. Theo các nguồn sử liệu, Luy Lâu là vùng đất có lịch sử, văn hóa từ rất lâu đời. Tại hội thảo về thời đại Hùng Vương dựng nước, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã cho rằng, Luy Lâu là phiên âm cổ của Dâu, vốn là đất đai của bộ lạc Dâu, một trong những bộ lạc lớn và quan trọng, hợp thành nước Văn Lang – Âu Lạc. Bộ lạc này nổi tiếng về nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải ở vùng đất bãi sông Dâu, sông Đuống, với trung tâm tôn giáo là đền Bà Dâu – một nữ thần nông nghiệp.
Trong các thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam như Hậu Hán Thư, Giao Châu ngoại vực ký, An Nam Chí lược… hay Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư… Luy Lâu (Liên Lâu) được biết đến là trị sở của quận Giao Chỉ, sau này là trị sở của Giao Châu, đồng thời là một trung tâm Phật giáo cổ xưa thời Bắc thuộc… Khi chép về Sĩ Nhiếp trong Kỷ Sĩ Vương, Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vương là người khoan hậu khiêm tốn… Họ Sĩ, tên húy là Nhiếp, tự là Ngạn Uy, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngộ. Tổ tiên người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc triều tránh sang đất Việt ta, đến vương là sáu đời… đổi làm Thái thú Giao Châu, được tước Long Độ Đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu” [1]. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, tên gọi Liên Lâu hay Luy Lâu có lẽ cũng chỉ là gọi tạm, “Vì các nhà nghiên cứu đời trước từng gọi là La Lũ, Liên Thụ, Liên Lâu, Luy Lâu. Rất có thể đó là những cách người Hán đã dùng để phiên âm một từ Việt cổ hoặc là phiên âm chính cái tên gọi nôm na hiện vẫn phổ biến ở địa phương này: Làng Dâu”[2].
Làng Dâu, nay thuộc phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xưa kia từng có con sông Dâu chở nặng phù sa và huyền thoại chảy qua. Đến nay, sông Dâu là một dòng sông cổ, đã cạn dòng sau khi nhà Nguyễn cho khơi rộng sông Thiên Đức để tránh nạn lũ lụt triền miên ở vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ. Trong công trình nghiên cứu về những đô thị cổ ở Việt Nam từ thời Hùng Vương đến ngày nay, khi đề cập tới Luy Lâu, kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình cho rằng, “các nhà khoa học đã dựng lại ảnh chụp năm 1964 từ vệ tinh Corona và nhận ra dấu vết các khúc uốn sông Dâu xa xưa, rồi liên hệ tới địa hình tương tự của một khu đô thị Ai Cập cổ bên bờ sông Nile?”[3]. Theo đó, sông Dâu là nét cảnh quan căn bản của vùng Dâu – Luy Lâu thời cổ. Từ thuở xa xưa, sông Dâu là một dòng chảy khá lớn thông với sông Hồng, là mạch giao thông kết nối trung tâm Luy Lâu với các khu vực xung quanh. Hệ thống giao thông thủy bộ của sông Dâu và những con đường cổ đã giúp Luy Lâu trở thành một trung tâm đô hội, một thương cảng nhộn nhịp nổi tiếng lúc bấy giờ. Đồng thời, trong khoảng thời gian những thế kỷ đầu Công nguyên, dòng chảy này là đường thủy nối Luy Lâu với Phật Tích và có vai trò lớn trong việc hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên trên đất nước ta.


Sự tồn tại của đô thị cổ Luy Lâu đã được ghi nhận trong nhiều đợt nghiên cứu, khảo sát và khai quật khảo cổ học của các nhà sử học và khảo cổ học nước ta trong suốt nhiều năm liên tục, được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước. Hiện nay, khu di tích khảo cổ Luy Lâu được đánh giá là khu di tích khảo cổ thời Bắc thuộc có quy mô rộng lớn nhất với số lượng di tích phong phú nhất ở nước ta. Cảnh quan Luy Lâu xưa gắn liền với sông nước, thông thương với Biển Đông nhưng vẫn cao thoáng, phong quang hơn các vùng xung quanh. Với địa thế – cảnh quan đó, trong xu thế tiến xuống đồng bằng châu thổ và chiếm lĩnh phía vùng ven biển phía Đông của người Việt cổ, Luy Lâu là một trong những điểm quần cư lý tưởng. Có lẽ trong khoảng thời gian trước Công nguyên, Luy Lâu không chỉ là nơi có dân cư trù mật mà còn là một trung tâm kinh tế, văn hóa của người Việt trong tiến trình hình thành và phát triển một nền văn minh lúa nước bên những dòng sông. Khi triều đình phong kiến phương Bắc vào cai trị nước ta, nhận thấy vị trí có ưu thế và thuận lợi về nhiều mặt, nhất là vai trò quan trọng của con đường hàng hải quốc tế, vùng Dâu (tức Luy Lâu) đã nhanh chóng trở thành trị sở của chính quyền đô hộ. Các nguồn sử liệu cho biết, thành cổ Luy Lâu (Liên Lâu) do Thái thú Sĩ Nhiếp (137-226) xây dựng bên bờ trái sông Dâu, xung quanh là đồng bằng rộng lớn. Trong thành là công đường, dinh thất, nhà cửa, đồn trại, kho bãi… Mặt lũy thành là tháp canh, đồn trại, bao lấy lũy thành là hào sâu, lũy tre dày đặc để bảo vệ bộ máy cai trị đương thời. Sử sách kể về Luy Lâu như một thành thị lớn phố xá phong quang, ngựa xe tấp nập ra dáng Đông Hán. “Đinh Hợi năm thứ 21 (207) (Hán Kiến An năm 12), Viên Huy nhà Hán gửi thư cho Thượng thư lệnh là Tuân Úc rằng: “Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện… Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết: Kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được”[4].
Trong suốt mấy thế kỷ đặt nền đô hộ ở nước ta, Luy Lâu vừa là một trung tâm chính trị, đồng thời là một trung tâm thương mại có tính quốc tế. Nằm giữa hai nền văn minh lớn của nhân loại là Trung Quốc và Ấn Độ, thủ phủ Giao Chỉ (sau này đổi thành Giao Châu) cố nhiên là nơi gặp gỡ giữa các luồng giao thương kinh tế và giao lưu văn hóa. Theo sử cũ, các nước ở phương Nam và phương Tây muốn giao thiệp với Trung Quốc đều phải “đi theo con đường Giao Chỉ”. Nhiều đoàn sứ thần các nước đều dừng chân ở đây một thời gian để làm quen với ngôn ngữ, văn tự và phong tục tập quán cũng như tìm hiểu tình hình trước khi tới kinh đô Lạc Dương, Tràng An hay Kiến Nghiệp. Vào thời Hán, tuyến đường hàng hải giao lưu giữa phương Đông và phương Tây bắt đầu được mở rộng và phát triển. Sách Giao Châu dị vật chí của Vạn Chấn viết vào thế kỷ II có nói đến những thuyền biển dài tới 20 trượng, chở được hàng trăm người cùng hàng hóa hàng vạn hộc của người ngoại vực (tức ngoại quốc). Thuyền buôn và sứ giả các nước như Java, Miến Điện, Ấn Độ… đều qua lại châu Giao rồi mới sang Trung Quốc. “Tại những thị trấn lớn của ta lúc bấy giờ như Luy Lâu, Long Biên… đã có nhiều ngoại kiều tới trú ngụ, buôn bán và truyền giáo”[5]. Trong đó, đông đảo nhất là những thương nhân Ấn Độ. Từ nhiều năm trước Công nguyên, những thương nhân giàu có trên đất nước của nền văn minh Sông Ấn – sông Hằng đã học được kỹ thuật đi biển, kỹ thuật đóng tàu lớn của người Ba Tư và có kết nối giao thương với các nước phương Tây. Để có đủ hàng hóa cung cấp cho đế quốc La Mã, họ giong thuyền theo gió mùa Tây Nam đi về phía Đông Nam Á, đến Mã Lai, quần đảo Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển Đông, đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản. Trên tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng này, xứ Giao Châu, tiêu biểu là thủ phủ Luy Lâu là một tụ điểm nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền. “Trong quan hệ mậu dịch với nước ngoài, người ta thường dùng vàng bạc làm vật trung gian đổi chác. Lái buôn ngoại quốc ghé thuyền vào miền đất nước ta không những vì miền đất nước ta là một trạm quan trọng trong đường hàng hải quốc tế, có nhiều cảng tốt làm chỗ trú ngụ, tránh bão tố, lấy nước ngọt cho thuyền bè mà còn vì nước ta có nhiều sản phẩm quý có thể xuất khẩu, chủ yếu là ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc trai, san hô và nhất là trầm hương”[6].

2. Theo “Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông”, nhà nghiên cứu Coedès cho rằng: vào những năm đầu và trước cả Công nguyên, các thương nhân Ấn Độ đã đi thuyền đến miền Viễn Đông để thu mua các thứ gia vị, hương liệu, gỗ, trầm hương, sừng tê, ngà voi… Những khách buôn hàng hải trú ngụ dài ngày tại các thị trấn lớn như Luy Lâu lúc bấy giờ là những người đầu tiên đã mang các sinh hoạt Phật giáo đến với nước ta. Trong các chuyến viễn dương, thương nhân Ấn thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn. Khi dừng chân ở mỗi địa phương, họ thường lập nơi thờ tự để cầu sự bình an, may mắn. Về sau, các tăng sĩ Ấn Độ và một số tăng đoàn đã theo các thuyền buôn này đem đạo Phật đi truyền bá vào các dân tộc ở Đông Nam Á, trong đó có Giao Châu. Qua một thời gian họ lưu trú tại đây, người Việt không chỉ biết đến những thành tựu của nền văn minh Ấn Độ như về thiên văn, niên lịch, y khoa, phương thức canh tác… mà còn biết đến đạo Phật. Văn hóa Ấn Độ theo con đường du nhập tự nhiên, phi cưỡng chế, cùng bản tính hòa bình và giá trị nhân bản đã thẩm thấu sâu vào trong tâm thức của người Việt. Chính vì vậy, trên bước đường truyền giáo ở xứ Giao Châu, các nhà sư Ấn Độ dường như đã tìm được một mảnh đất lành và tạo dựng nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu – một trong ba trung tâm Phật giáo lớn dưới thời Hậu Hán. Đây được xem như đợt sóng lan tỏa tiên phát trong những đợt sóng giao lưu của văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa Việt Nam.
Có nhiều bằng chứng cho thấy Phật giáo được du nhập vào nước ta một cách hài hòa bằng cả đường biển từ phương Nam và đường bộ từ phương Bắc. Theo truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, một số nhà nghiên cứu cho rằng Phật Giáo đã có ở nước ta từ thời đại Hùng Vương. Tuy nhiên, căn cứ vào nhiều nguồn sử liệu trong và ngoài nước, đông đảo các nhà khoa học đều thống nhất mốc niên đại du nhập của Phật giáo vào nước ta là khoảng cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III sau Công nguyên – tức thời kỳ Bắc thuộc. Trong “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Nguyễn Lang đã khẳng định rằng: “Ý hướng đem Phật giáo truyền bá vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật đại thừa. Chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị tăng sĩ đi theo các thương thuyền về Đông Nam Á. Trung Tâm Phật giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn Độ tới bằng đường biển đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý”[7]. Theo chính sử Trung Quốc, ngay khi miền Nam nước này còn chưa biết đến Phật giáo thì ở Luy Lâu đã hình thành một trung tâm Phật giáo và Phật học khá phồn thịnh. Luy Lâu được xem là một trong ba trung tâm Phật giáo ở thời nhà Hán và có thể có sớm hơn cả hai trung tâm Lạc Dương, Bành Thành (Trung Quốc). Vào thời Sĩ Nhiếp nắm quyền đô hộ nước ta (khoảng năm 187 – 226), có nhà sư Ấn Độ đốt hương theo hầu. Sự kiện Mâu Tử học Phật và viết sách tại Giao Châu chứng tỏ lúc này, đạo Phật đã có vị trí và vai trò nhất định. Các nguồn thư tịch, tài liệu ở Luy Lâu, nhất là “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” lưu tại Chùa Dâu, cho biết vào thế kỷ II-III sau Công nguyên, Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của nước ta. Hoạt động Phật giáo ở đây rất nhộn nhịp và tập trung, tăng viện, chùa tháp được xây cất rất quy mô. Hàng trăm tăng sỹ ấn Độ, Trung Quốc, Trung Á… đã tới Luy Lâu truyền đạo, nghiên cứu, biên dịch kinh Phật, đào tạo tăng đồ. Các bộ kinh Bát thiên tụng bát nhã, An Ban thủ ý, Pháp Hoa tam muội… là những bộ kinh xưa nhất trong hệ bát nhã đã được các tăng sĩ nghiên cứu và biên dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán ngay tại Luy Lâu. Trong Thiền uyển tập anh, ở truyện Thông Biện, đoạn dẫn lời sư Đàm Thiên đáp lại Tùy Văn Đế (thế kỷ VI) cho biết: Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến Giang Đông, mà xứ ấy đã xây ở Liên (Luy) Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi. Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta. Bấy giờ các vị sư Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác đã đến ở đó truyền đạo.

Quả thực, người Ấn Độ khi vượt qua hàng rào núi cao, biển rộng không chỉ mang theo những thành tựu của một nền văn minh lớn mà còn mang theo cả lý tưởng xây dựng các quốc gia Ấn Độ hóa hay một Đại Ấn mà tinh thần không kém gì Đại Hy Lạp. Sự du nhập của văn hóa Ấn Độ không phải là sự xâm nhập vũ lực của những kẻ đi chinh phục, mà chủ yếu là do sự thâm nhập trên lĩnh vực văn hóa được tiến hành một cách hòa bình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến, đạo Phật luôn hòa nhập với tất cả các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước trên thế giới và có một sức sống vô cùng mạnh mẽ. Như nhà nghiên cứu Phan Ngọc từng nhận định khi điểm lại những thành công lớn trong quá trình giao lưu văn hóa của nhân loại: “Những vị hòa thượng chân đất từ Ấn Độ đã hoán cải cả Đông Á và Đông Nam Á, tạo nên một phần quan trọng của diện mạo văn hóa trên toàn bộ khu vực”[8]. Khi du nhập vào nước ta, Phật giáo Ấn Độ không hề mâu thuẫn với những tín ngưỡng sẵn có của dân tộc mà còn dễ dàng tìm thấy sự hài hòa nhờ tính dung chấp cao của nền văn hóa giàu bản sắc Việt Nam. Thậm chí, không ít người thừa nhận rằng, “đạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất”[9]. Do đó, sự ra đời của hệ thống Phật Tứ Pháp Luy Lâu không chỉ là sự dung hợp của Phật giáo với những tín ngưỡng cổ truyền của người Việt mà còn là sự dung hợp của một nền văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa tạo nên nhiều sắc thái đa dạng song không mất đi bản sắc địa phương.
Nếu như Thiền sư Khương Tăng Hội được các nguồn sử liệu cho là sơ tổ của Thiền tông Việt Nam thì theo truyền thuyết ở Luy Lâu, người đầu tiên truyền đạo ở nước ta là sư Khâu Đà La, người Tây Trúc. Bản khắc Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục cho biết, vào khoảng năm cuối Hán Linh Đế (189 sau Dương lịch) có nhà sư Kỳ Vực và Khâu Đà La, chống gậy vân du đến ở thành Luy Lâu, trị sở của Sĩ Vương. Mặc dù lai lịch và hành trạng của Khâu Đà La không được nhắc đến trong các nguồn sử liệu như những vị sư tăng khác nhưng những truyền thuyết về sư Khâu Đà La, Man Nương Phật Mẫu, Phật Pháp Vân hay Thạch Quang Phật được lưu truyền rộng rãi đã thể hiện sự du nhập và Việt Nam hóa đạo Phật trên một vùng đất có bề dày hàng ngàn năm lịch sử. Về bản chất đó là sự lý giải bằng huyền thoại cho sự ra đời của dòng Phật giáo dân gian độc đáo ở Luy Lâu. Chuyện cô gái Man Nương ngủ quên bên bậc cửa, bỗng hoài thai khi sư Khâu Đà La vô tình bước qua thực chất chính là dấu ấn đậm nét của giao lưu văn hóa. Đứa trẻ nàng Man Nương sinh hạ vào ngày mùng 8 tháng 4 sau kỳ thai nghén dài ngày, được thiền sư gửi vào trong thân cây Dung thụ ở cạnh chùa chính là con Phật – cội nguồn của Phật giáo vùng Dâu. Nhờ đó, bốn bức tượng Tứ Pháp được tạc từ thân cây Dung thụ ấy mới có tính linh. Khối đá tự nhiên trong lòng khúc gỗ cũng phát sáng một cách thần kỳ và biết nhảy vào lòng mẹ Man Nương. Hay nói cách khác, Phật giáo Tứ Pháp Luy Lâu là biểu hiện cụ thể sự lắp ghép, hòa quyện giữa Phật giáo có nguồn gốc Ấn Độ với văn hóa của người Việt cổ. Tại Luy Lâu, hình tượng Phật như là cái vẻ bề ngoài mà nội dung chủ yếu là các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp được mang tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Cũng từ buổi sơ khai ấy, Phật giáo đã kết hợp với tín ngưỡng đạo Mẫu biến nàng Man Nương trong huyền thoại thành Phật Mẫu, hay Phật Tổ. Hiện tượng thờ các vật tự nhiên như cái cây, hòn đá trong tín ngưỡng Vật linh cũng được kết hợp khi Thạch Quang Phật được phối thờ bên cạnh tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát, Pháp Vân ở chùa Dâu.

Các nhà nghiên cứu văn hóa và Phật học cho rằng, khái niệm Tứ Pháp không hề có trong cả kinh điển Phật giáo của Ấn Độ và Trung Quốc. Trong khi Kinh Phật có nhiều khái niệm mở đầu bằng “Tứ” như Tứ Diệu đế, Tứ Quả, Tứ tượng, Tứ Pháp giới, Tứ nhiếp pháp… thì Tứ Pháp vùng Dâu là khái niệm và hình tượng độc đáo của Phật giáo dân gian. Tứ Pháp là tín ngưỡng vốn xuất phát từ niềm tin và sự tôn thờ các hiện tượng tự nhiên nguyên thủy của cư dân nông nghiệp. Để có nước trồng trọt phải có bốn vị thần: Mây, Mưa, Sấm, Chớp. Theo tín ngưỡng nữ thần nông nghiệp bản địa được nhân dân tôn kính gọi là các Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp và được thờ cúng trong các đền thờ. Khi đạo Phật được truyền bá, theo sử truyện Khâu Đà La – Man Nương, cả bốn bà đều thành Phật và chuyển thành hệ thống Tứ Pháp với những tên gọi Trung Hoa. Bà Mây thành Pháp Vân, thờ ở chùa Thiền Định Diên Ứng (chùa Dâu). Bà Mưa thành Pháp Vũ, thờ ở chùa Thành Đạo (chùa Đậu). Bà Sấm thành Pháp Lôi, thờ ở chùa Phương Quan (chùa Dàn). Bà Chớp thành Pháp Điện, thờ ở chùa Phi Tướng (chùa Tướng). Trong nhóm tín ngưỡng Tứ Pháp, nổi bật nhất là tôn thờ Phật Pháp Vân. Trên vùng Kinh Bắc, phần lớn những ngôi chùa thờ Phật Tứ Pháp được xây dựng ở các làng ven sông Dâu, tụ về trung tâm là ngôi chùa Dâu cổ kính. Có lẽ, mạch nguồn dòng sông Dâu huyền thoại cũng là dòng chảy đưa Phật giáo Tứ Pháp từ mảnh đất Luy Lâu lan tỏa ra khu vực đồng bằng châu thổ xung quanh. Trên địa bàn Hà Nội và Hưng Yên, có nhiều ngôi chùa thờ Tứ Pháp nổi tiếng như chùa Nành (Gia Lâm), chùa Pháp Vân (Giáp Bát), Chùa Đậu ở (Thường Tín), chùa Thái Lạc (Văn Lâm). Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, tín ngưỡng Phật Tứ Pháp vùng Dâu không chỉ có sức sống bền lâu trong quảng đại quần chúng nhân dân lao động mà còn được các tầng lớp vua quan hết sức tôn sùng. Trong các nguồn thư tịch như Đại Việt sử ký toàn thư, Châu bản triều Nguyễn đã ghi lại nhiều lần triều đình và các quan địa phương tổ chức rước Phật để cầu mưa, cầu tạnh, thảy đều ứng nghiệm. Tương truyền, danh tiếng các chùa Tứ Pháp ở Luy Lâu còn truyền sang bên Trung Quốc. Vua Minh Đế nhà Đông Tấn có lần sai tùy tướng đem quân sang lấy tượng nhưng không được.
Có thể nói, tiếp xúc và giao lưu văn hóa là một hiện tượng tất yếu, khách quan và phổ biến trong sự phát triển của mọi nền văn hóa. Chuyện giao lưu văn hóa đã có từ thời thượng cổ, nhưng chỉ trong khoảng nửa thế kỷ nay, người ta mới thấy chính giao lưu văn hóa mới là nền tảng của giao lưu quốc tế. Nhìn lại vấn đề sự hình thành của Phật giáo Tứ Pháp vùng Dâu có thể thấy đó là kết quả giao lưu văn hóa, đồng thời vừa là nền tảng trong quá trình giao thương trên tuyến đường hàng hải quốc tế từ những thế kỷ đầu Tây lịch. Trong quá trình tiếp xúc, giao lưu đó, chúng ta không hề thụ động, dễ bị áp đặt hay đồng hóa. Trái lại, sự tồn tại và phát triển của trung tâm Phật giáo Luy Lâu trong suốt nhiều thế kỷ qua là biểu hiện sức sống mãnh liệt của nền văn hóa dân tộc giàu bản sắc và truyền thống. Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 4, các chùa Tứ Pháp vùng Dâu lại mở hội vô cùng long trọng. Những nghi lễ tắm Phật, rước tượng Tứ Pháp, rước tượng Thạch Quang, cùng màn diễn trò cướp nước sôi động… đã thể hiện sự hòa quyện của văn hóa Việt cùng văn hóa Ấn – Trung tại trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất nước ta.■
Dương Thị Thịnh
Chú thích:
[1] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.163
[2] Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Văn Lê, Hà Nội, con đường – dòng sông và lịch sử, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, 1984, tr.34.
[3] Đoàn Khắc Tình, Lịch sử đô thị Việt Nam từ thời Hùng Vương đến ngày nay, Hà Nội, 20018, tr. 22
[4] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.163
[5] Ủy ban KHXH Việt Nam, Lích sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.99
[6] Ủy ban KHXH Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.99 – 100.
[7] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, La Bối, 1973, tr.17
[8] Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 25-26.
[9] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, La Bối, 1973, tr.42