Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu bản dịch bài viết đăng trên tạp chí Revue historique des Armées số 177 của nhà sử học Pháp Philippe Schillinger xuất bản năm 1989. Bài viết cung cấp thêm nguồn tư liệu về khả năng dự báo chiến lược của giới chỉ huy Pháp trước khi bước vào trận chiến Điện Biên Phủ. Thông qua việc phân tích nội dung và các kết luận chiến lược trong tài liệu đề tên “Di chúc của Tướng Salan”, tác giả đặt ra câu hỏi: liệu những định hướng mà Raoul Salan gửi gắm có phải là tiền đề cho lựa chọn quân sự tại Điện Biên Phủ hay không? Và Navarre đã tiếp nhận, thực hiện những định hướng đó như thế nào trong bối cảnh thực tiễn của cuộc chiến. Các từ ngữ trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn nhằm đảm bảo tính khách quan.
*
Một tài liệu trong vô số hồ sơ của Cơ quan Lịch sử quân đội Lục quân vừa mang tới cho chúng ta lời giải đáp cho câu hỏi về trận chiến ở Điện Biên Phủ. Văn bản đó có tên: “Di chúc của Tướng Salan”. Lẽ dĩ nhiên, đây không phải là những lời trăng trối cuối cùng của Raoul Salan mà là những suy tư của ông về cuộc chiến tại Đông Dương vào thời điểm ông chuẩn bị rời vị trí chỉ huy quân viễn chinh để Tướng Navarre tiếp quản. Tài liệu đề ngày 25/5/1953[1] và được gửi cho Bộ trưởng Các quốc gia Liên hiệp khi đó là Jean Letourneau, gồm hai phần: một bản nghiên cứu của Phòng 2 về “tình hình lực lượng đối phương” và những kết luận mà dường như chính Tướng Salan rút ra cho “cách tiến hành chiến tranh trong thời gian sắp tới”.
Bài viết này không nhằm mục đích trình bày nguyên nhân và hoàn cảnh khiến Tướng Navarre chấp nhận trận Điện Biên Phủ. Những tác giả khác đã làm điều đó, thậm chí theo cách rất xuất sắc[2]. Chúng tôi đơn giản muốn đưa ra, ngay khi tài liệu này được công bố ít lâu, “di chúc” chuyển từ Salan sang Navarre thật ra là gì? Phải chăng Điện Biên Phủ đã nằm sẵn trong đó? Và nếu đúng thì Navarre đã thực hiện nó như thế nào?
“Bản di chúc” của Tướng Salan
Sau khi quân Việt Minh giành chiến thắng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, một số lãnh đạo Pháp cho rằng đất nước mình đang không có đủ phương tiện để chống lại quân Việt Minh. Đặc biệt là Tướng Leclerc.
Tuy nhiên, không phải tất cả lãnh đạo Pháp đều nghĩ như vậy. Với nhiều người, việc đàm phán là không thể và tất cả chỉ nhằm kéo dài thời gian mà không đi tới nền hoà bình thật sự. Mục tiêu duy nhất của Việt Minh là buộc người Pháp rút khỏi Đông Dương – điều mà khi đó họ chưa đủ khả năng thực hiện bằng biện pháp quân sự. Quả thật quân Việt Minh có thể tiến hành chiến tranh, nhưng họ không thể đối đầu trực diện với quân đội Pháp. Ngược lại với nước Pháp, họ có thể đối đầu với một đối phương yếu hơn mình nhiều như vậy.
Quan điểm này đã thắng thế: các cuộc đàm phán chấm dứt, người Pháp quyết định tấn công Việt Minh bằng quân sự. Nhưng rất nhanh, giống như dự đoán của Leclerc, quân viễn chinh gặp phải vấn đề thiếu quân số. Để đối chọi với chiến tranh du kích của Việt Minh thì đòi hỏi phải có nhiều binh lực. Vì vậy năm 1950, khi trao quyền đứng đầu nhà nước cho Bảo Đại, chính quyền Pháp cần thêm quân để đảm bảo an ninh cho “lãnh thổ của Hoàng đế”. Chỉ còn cách điều quân từ các đồn ở biên giới Trung Quốc về. Nhưng việc này cũng nhiều rủi ro, vì nó tạo điều kiện để Việt Minh trực tiếp nối quan hệ với Trung Quốc.
Và chính trong bối cảnh đó, trận Cao Bằng xảy ra. Lần đầu tiên quân Việt Minh đối đầu với quân Pháp trong một trận đánh bài bản và đã giành luôn chiến thắng. Và từ đó có thể thấy, rõ ràng Việt Minh là một lực lượng chính quy hiệu quả và nỗi lo họ sẽ kiểm soát được toàn bộ Bắc Kỳ lớn dần lên. Khi được bổ nhiệm làm Cao uỷ kiêm Tổng chỉ huy tại Đông Dương, Tướng De Lattre đã ổn định lại tình hình. Nhưng ông cũng phải đối mặt với hai vấn đề mà Leclerc từng nêu ra: “Chúng ta lấy đâu ra người, trang bị?”.
Về nhân lực, De Lattre quyết định tuyển ngay trong lãnh thổ Việt Nam. Lấy lý do Pháp đã trao lại độc lập, cuộc chiến này là cuộc chiến của họ. Ông cố thuyết phục Bảo Đại và thanh niên Việt Nam tham chiến.

Về trang bị, ông sang Mỹ tìm viện trợ. Mỹ lúc đó đang trong cuộc chiến tại Triều Tiên và muốn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan rộng ra Đông Nam Á. Do đó Mỹ sẵn sàng hỗ trợ Pháp và các quốc gia Liên bang (Việt Nam, Lào, Campuchia), đây còn là cách cân bằng nếu Việt Minh nhận được hỗ trợ từ Trung Quốc.
Nhưng lực lượng người Việt và cả viện trợ từ Mỹ không mang lại kết quả nào ngay lập tức. Vì vậy, Tướng Salan, người kế nhiệm De Lattre không thể hy vọng đánh bại quân Việt Minh ngay tức khắc. Vì vậy cần chờ quân liên minh với Pháp được tăng cường, và thời gian đang đứng về phía người Pháp. Đồng thời vẫn còn hy vọng Bảo Đại sẽ tập hợp được những người chống cộng, những người còn do dự, những người sau cùng thường luôn ngả theo phía mạnh hơn.
Chính trong viễn cảnh đó, Salan xây dựng bản “Kế hoạch hành động để tiến hành chiến tranh tại Việt Nam”[3]. Văn bản ký ngày 19/3/1953 này là một phần sau này ông để lại cho Tướng Navarre. Trong đó ông khẳng định rằng: “Chiến thắng duy nhất để có thể đi tới nền hoà bình bền vững ở Đông Dương là tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh”. Thật vậy, trong thời gian dài, Bộ chỉ huy Pháp tin rằng đối phương không thể xây dựng một đội quân hiện đại nên họ đã không chú trọng phát triển lực lượng chủ lực của mình. Vì thế, quân Pháp phải đối đầu với lực lượng mạnh hơn so với dự đoán. “Về mặt chiến lược, tình trạng chúng ta để Việt Minh đi trước trong việc xây dựng lực lượng chủ lực chính là bất lợi nặng nề nhất. Chấp nhận điều đó là một sai lầm nghiêm trọng của Bộ chỉ huy tối cao cùng với hậu quả của nó một ngày nào đó tất yếu sẽ trở nên tai hại”, Tướng Navarre chỉ trích[4]. Tuy nhiên, khi ghi nhận công lao của Tướng Salan, dù cũng có phần phê phán nhẹ, ông tiếp tục: “Việc xây dựng lực lượng chủ lực mạnh hơn Việt Minh và có tính cơ động tương đương là vấn đề cốt lõi. Đó chính là điều mà người tiền nhiệm của tôi nhìn thấy rõ, dù hơi muộn, đó cũng là điểm chính trong bản kế hoạch mà ông để lại cho tôi như một “di chúc”.
Việc phát triển lực lượng chủ lực thực sự là ý tưởng trọng tâm trong kế hoạch hành động mà Tướng Salan xây dựng “cho các năm từ 1953 đến 1955”. Ông lý giải như sau: “Đối diện với một đối phương được Trung Quốc cộng sản hỗ trợ mạnh mẽ và có khả năng không chỉ duy trì một cuộc chiến tranh du kích cường độ cao mà còn xây dựng được một quân đội thực sự, chúng ta phải đối lại bằng một lực lượng chủ lực có chất lượng ít nhất tương đương và hơn nữa còn phải có ưu thế rõ rệt về số lượng”.
Chỉ có công cụ như vậy mới tiêu diệt được lực lượng chủ lực của đối phương – điều kiện để giành chiến thắng ở Đông Dương: “Thật vậy, có thể cho rằng khi yếu tố sức mạnh này bị loại bỏ, các tổ chức chính trị – quân sự đang nâng đỡ cuộc nổi dậy sẽ nhanh chóng tan rã, và những ổ kháng cự cuối cùng sẽ bị dập tắt mà không gặp khó khăn”.
Để làm được điều đó, “cần phải bình định hoàn toàn” các vùng lãnh thổ mà người Pháp đang kiểm soát nhưng vẫn còn tồn tại lực lượng đối phương. Đồng thời, cũng phải “từng bước thu hẹp” những khu vực do Việt Minh nắm giữ – những khu vực đóng vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế chiến tranh của họ hoặc “thuận lợi cho việc duy trì sự kiểm soát chính trị của họ”.
Việc bình định các vùng lãnh thổ đã nằm dưới quyền kiểm soát của quân viễn chinh, trước hết là vùng đồng bằng Bắc Bộ; vùng này từng là trọng tâm của các chiến dịch ở Bắc Kỳ dưới thời Tướng De Lattre, người muốn biến nơi đây thành vùng then chốt của Đông Nam Á. Khu vực mà Bộ chỉ huy hy sinh các chiến trường khác để bảo vệ này đã mắc vào một “sai lầm chiến lược” – như Navarre nhận xét; vùng đồng bằng này đã được củng cố, bê tông hoá, được bao bọc bằng “một kiểu phòng tuyến Maginot thu nhỏ, nơi tiêu tốn những khoản chi phí khổng lồ”; vùng này cũng làm tiêu hao nhân lực vì đã đóng băng 20 tiểu đoàn tinh nhuệ. Sau đây là cách Salan mô tả tình hình tại đó vào mùa xuân năm 1953: “Đồng bằng thường xuyên có khoảng 15 tiểu đoàn vững chắc… gần 50.000 binh lính thuộc mọi thành phần. Trường hợp tốt nhất là dân chúng giữ thái độ trung lập; nhưng họ lại ủng hộ Việt Minh quá thường xuyên, và quyền lực chính quyền trung ương vẫn còn yếu. Quân Việt Minh còn nắm rất chắc một vài vị trí… Nỗi lo ngại về vụ thu hoạch tháng 5 đang vởn vơ trong dân chúng, và chúng ta sẽ phải tranh giành quyết liệt với Việt Minh”.
Việc từng bước thu hẹp các vùng do Việt Minh kiểm soát trước hết là đẩy họ ra khỏi vùng ven biển Trung Kỳ. Salan đặc biệt dự kiến rằng: “Đến cuối năm 1954, chúng ta sẽ phải giành lại quyền kiểm soát khu vực kéo dài từ sông Hoài đến mũi Đại Lãnh, qua đó loại bỏ mối đe dọa hiện đang đè nặng lên các cao nguyên”. Hơn nữa, từ dải bờ biển này, Việt Minh có thể phát động các cuộc tấn công hoặc phản công ở cả ba miền.
Khi các chiến dịch bình định và tái chiếm lãnh thổ này hoàn tất, cuối cùng vào năm 1955, có thể tiến hành “việc tập hợp một lực lượng chủ lực mạnh, được huấn luyện và đào tạo bài bản, có khả năng được sử dụng trong những điều kiện tốt nhất vào mùa thu”.
Kế hoạch Salan có hai nhược điểm lớn. Trước hết, yếu tố nền tảng của nó là thời gian. Nhưng dù cần đến gần ba năm để chuẩn bị cho cuộc tấn công cuối cùng là điều hợp lý, thì việc trình bày một kế hoạch kéo dài như vậy trước một chính phủ có tuổi thọ chưa quá một năm và đang nóng lòng kết thúc chiến tranh như vậy thật là thiếu khéo léo. Do đó, trong một cuộc họp với các đồng minh tại Washington, người ta đã đề nghị Tướng Raoul Salan rút ngắn thời gian thực hiện,“quyết định trong trường hợp đó phải đạt được vào khoảng thời gian từ mùa thu 1954 đến mùa xuân 1955”. Trên thực tế, trong “di chúc” của mình, vị tướng đã nói đến một “kế hoạch hai năm”.
Nhược điểm thứ hai của kế hoạch Salan còn nghiêm trọng hơn nhiều: ông đặt ra điều kiện sau đây: “Trong toàn bộ thời gian diễn ra các hoạt động (bình định và tái chiếm lãnh thổ), thế cân bằng hiện tại ở Bắc Việt Nam phải được duy trì”. Điều này đồng nghĩa với việc giả định rằng Tướng Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy quân đội Việt Minh, sẽ để ông yên và chờ đợi một cách thụ động để ông có thời gian củng cố lực lượng viễn chinh và củng cố chế độ của Bảo Đại. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy: ông Giáp đã tấn công sang Lào. Và chính yếu tố mới này của cuộc chiến Đông Dương đã được “di chúc” ngày 25/5/1953 của Tướng Salan tính đến.

Bằng việc tấn công sang Lào, Tướng Giáp đã tự tạo cho mình nhiều lợi thế: ông làm đảo lộn kế hoạch của Tướng Salan, khiến Salan lo ngại và rối loạn.
[…]
Thật vậy, liệu đây có phải là một cuộc tấn công thực sự – điều mà Salan lo ngại về hậu quả – hay chỉ đơn thuần là một đòn nghi binh? Phải chăng Tướng Giáp chỉ muốn buộc ông phải rút bớt lực lượng khỏi đồng bằng, và khi điều đó xảy ra, sẽ tung lực lượng lớn tấn công vào đó? Nhiều dấu hiệu làm người ta tin như vậy: “Một sự kiện mới kể từ ngày 12/5 là đài phát thanh cũng như công tác tuyên truyền nội bộ của đối phương đều không nhắc gì tới chiến dịch ở Lào. Thái độ mới này có phải là dấu hiệu cho thấy người Việt quay trở lại tập trung riêng vào lãnh thổ Việt Nam hay không?”.
Mặc dù có tất cả những dấu hiệu khiến người ta tin rằng Lào chưa bị đe dọa ngay lập tức, Tướng Raoul Salan vẫn không muốn đưa ra kết luận dứt khoát và đã tính đến cả hai giả thuyết về ý đồ của Tướng Võ Nguyên Giáp: hoặc là tiếp tục chiến dịch tại Lào với một hoạt động phụ ở đồng bằng, hoặc là dồn toàn bộ nỗ lực vào đồng bằng.
Bộ chỉ huy Pháp, với những phương tiện hạn chế mà họ có, liệu có thể cùng lúc bảo vệ cả đồng bằng Bắc Bộ và Lào không? Có phải hợp lý hơn nếu bỏ qua việc phòng thủ Lào và mặc kệ số phận của nước này? Nhưng chính tại điểm này, Tướng Giáp đã khiến đối phương sa lầy. Ông hẳn biết rằng, vì những lý do quốc tế, Pháp không thể bỏ mặc Lào: “Việc từ bỏ trước vùng đất Thái và Bắc Lào trên thực tế sẽ là đơn phương từ bỏ các hiệp ước mà Pháp đã ký khi công nhận nền độc lập của các quốc gia liên kết. Những hậu quả về chính trị và tâm lý của việc từ bỏ này có thể sẽ vô cùng nghiêm trọng”. Nhưng còn hơn thế nữa. Quyết định cần đưa ra thuộc phạm vi quốc tế. “Hoa Kỳ, Anh và các cường quốc Đông Nam Á trong những tháng gần đây đã có một lập trường rõ ràng về vấn đề này”, Tướng Salan nhận xét. Và ông kết luận: “Vấn đề lựa chọn các vị trí cần giữ ở vùng Tây Bắc không thuộc thẩm quyền của Tổng chỉ huy, thậm chí cũng không phải của Cao ủy; chỉ có Chính phủ Pháp mới có quyền đưa ra một quyết định nặng nề về hậu quả như vậy”.

Tiếp theo là đoạn trong “di chúc” mà xét theo diễn biến của cuộc chiến có thể coi là quan trọng nhất. Khi Tướng Salan đưa ra đề xuất này, liệu ông có hình dung được rằng nó sẽ dẫn đến những hệ quả lớn đến thế không? Có lẽ là không. Ông viết rằng nếu Tổng chỉ huy được yêu cầu duy trì lực lượng tại Thái Lan để bảo vệ Lào, thì cần phải hoàn thiện hệ thống phòng thủ hiện tại bằng cách thiết lập một Trung tâm kháng cự mới tại Điện Biên Phủ. Ông nói rõ: “Ngay từ những ngày đầu tháng 1/ 1953, tôi đã ra lệnh tái chiếm địa điểm này, vì lúc đó tôi thấy rõ rằng việc kiểm soát nó là cần thiết cho an ninh của Luang Prabang. Những sự kiện của tháng 4 và tháng 5 vừa qua cho thấy tính cấp bách của chiến dịch này, mà chỉ do thiếu phương tiện vận tải đường không nên chưa thể thực hiện trước cuộc tấn công cuối cùng của Việt Minh”.
Bên lề đoạn văn này – đoạn đề nghị tái chiếm Điện Biên Phủ – viên sĩ quan tham mưu được giao nghiên cứu đã ghi một nhận xét rất logic: “Vâng, nhưng… một guồng máy cuốn theo! Không tính đến phương tiện”. Đúng vậy, bộ chỉ huy Pháp đã bị cuốn vào một guồng xoáy, và họ không có đủ phương tiện để đối phó.
Thật thú vị khi xem xét điều mà Tướng Raoul Salan sau này khai[5] rằng, ông đã khuyên người kế nhiệm mình: “Ngày 27/5 lúc 10 giờ, chúng tôi họp trong văn phòng của Cao ủy”. Một cách khá kỳ lạ, trong phần tiếp theo lại không hề nhắc đến Điện Biên Phủ. Trái lại, vị tướng cho biết ông đã đề cập đến khả năng rút khỏi Thái: “Cho đến bức điện chỉ thị ngày 28/4 của Chủ tịch Hội đồng, nhiệm vụ của tôi là bảo vệ khu vực này. Nhưng giờ đây điều đó không còn bị áp đặt nữa. Hơn nữa, nếu cho đến hôm nay tôi vẫn chiến đấu để giữ vùng Tây Bắc, thì không chỉ vì mệnh lệnh, mà còn vì một tình cảm cá nhân. Và chính tình cảm đó, tôi vừa được giải tỏa nhờ bức thư của Chủ tịch Liên bang Thái”.
Thật vậy, Chủ tịch Liên bang Thái đã nói với ông: “Nếu một ngày nào đó, thưa tướng quân, hoàn cảnh buộc Bộ chỉ huy tối cao phải rút khỏi Thái Lan tuyệt đối, tôi mong mọi người sẽ biết rằng trái tim tôi và toàn thể nhân dân tôi vẫn sẽ luôn luôn hướng về nước Pháp”. Và vị tướng kết luận: “Như vậy, từ nay, Bộ chỉ huy tối cao đã được tự do và không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ cân nhắc đạo lý nào liên quan đến vùng Tây Bắc. Tôi kết thúc bài trình bày này bằng những lời đó; nó là nội dung của một bản ghi chép đầy đủ, một “di chúc quân sự” của tôi, gửi ngày 25/5 cho ông Letourneau.”
Không thể phủ nhận rằng có sự khác biệt nhất định giữa những gì Tướng Salan viết trong hồi ký và trong “di chúc” của mình, bởi trong tài liệu này, ông thực sự khuyến nghị việc bảo vệ Lào. Đối với ông, việc từ bỏ đất nước này sẽ kéo theo những hậu quả nặng nề.
Hành động của Tướng Navarre
Tướng Henri Navarre sẽ làm gì với những lời gửi gắm của Tướng Raoul Salan? Như chúng ta đã thấy, những lời đó nằm trong hai văn bản: kế hoạch hành động để tiến hành chiến tranh tháng 3/1953 và “di chúc” tháng 5/1953. Văn bản thứ nhất coi việc xây dựng một lực lượng chủ lực mạnh là nhiệm vụ thiết yếu và ưu tiên. Văn bản thứ hai thì khuyến nghị mạnh mẽ việc bảo vệ Lào và tái chiếm Điện Biên Phủ. Rõ ràng Navarre không có đủ phương tiện để làm tất cả những điều đó. Như vậy, kế hoạch của Việt Minh đã vận hành hoàn hảo. Bộ chỉ huy Pháp bị kẹt giữa hai gọng kìm: một bên là sự thiếu hụt quân số buộc họ phải từ bỏ Lào, bên kia là các cam kết quốc tế khiến họ phải bảo vệ nước này.
Tướng Navarre quay sang chính phủ. Nếu buộc ông phải bảo vệ Lào, thì hãy gửi thêm quân tiếp viện. Nhưng Paris đã làm ngơ. Người ta đã cảnh báo ông từ trước: ông không nên trông đợi vào bất kỳ sự tăng viện đáng kể nào từ chính quốc. Nhiệm vụ của ông là tạo ra những điều kiện quân sự cho phép nước Pháp rút lui trong danh dự khỏi thế bế tắc và “vũng lầy” Đông Dương, để có thể thu hồi nhân lực và phương tiện đã bị tiêu hao tại đây – những nguồn lực cần thiết cho việc phòng thủ châu Âu đang bị đe dọa bởi Liên Xô.
Như vậy, Tướng Navarre bị bỏ lại một mình trước bài toán của mình. Phải làm gì? Trước hết, khác với đề xuất của Phòng 3 thuộc Bộ tham mưu[6], ông không đưa ra quyết định rút các đơn vị của Liên hiệp Pháp còn đóng tại Nà Sản và Lai Châu, qua đó giao việc phòng thủ khu vực này cho lực lượng Thái Lan. Đúng là phương án đó có thể cung cấp thêm quân cho lực lượng chủ lực, nhưng biên giới Lào sẽ không còn được bảo vệ. Phải thừa nhận rằng các lập luận của cấp dưới ủng hộ giải pháp này không thực sự thuyết phục. Họ cho rằng nếu người Pháp rút khỏi Thái, Việt Minh sẽ không còn lý do để đưa lực lượng lớn tới đó. Hơn nữa, họ đã đánh giá thấp khả năng phản ứng của đối phương khi khẳng định rằng việc rút quân này – được họ gọi là một cuộc “rút lui chiến lược” diễn ra mà không có chút áp lực nào từ đối phương – sẽ gây bất ngờ và làm rối loạn quân bên kia, dù đã có những tiến bộ rõ rệt, vẫn còn ở giai đoạn lập kế hoạch chậm rãi và triển khai kiên nhẫn.
Thực tế, vì những lý do chính trị, Navarre không thể hy sinh việc phòng thủ Lào: trong ba quốc gia liên kết, Lào là nước trung thành nhất với Pháp và cũng là nước duy nhất không đặt ra quá nhiều điều kiện khi gia nhập Liên hiệp Pháp “theo cách mà chúng ta hình dung”, như ông viết. Liệu ông có quyền bỏ rơi đất nước này hay không?
Tuy nhiên, Tướng Henri Navarre cũng không vì thế mà quyết định tăng cường phòng thủ biên giới Lào, cũng như không tái chiếm Điện Biên Phủ như “di chúc” của tướng Raoul Salan đã khuyến nghị. Ông không muốn phân tán lực lượng trong khi lại cần chúng để củng cố lực lượng chủ lực, đối với ông đó là ưu tiên tuyệt đối: “Chỉ có sự tồn tại của một lực lượng chủ lực có khả năng đánh bại và tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh mới có thể cho chúng ta phương tiện đạt được một giải pháp quân sự. Không có lực lượng này thì không có giải pháp. Khi đã có nó, mọi hy vọng đều được cho phép”[7]. Hơn nữa, ông tin rằng trận đánh quyết định sẽ diễn ra ở vùng đồng bằng, và chính tại đó cần phải tập trung nỗ lực.
Vì không thể hành động khác, Tướng Navarre đã không tăng cường biên giới Lào – điểm yếu trong hệ thống bố trí của mình. Ngày 30/7/ 1953, Roger Stéphane đã viết trên tờ France – Observateur: “Khi Bộ trưởng lưu ý rằng chiến tranh Đông Dương không chỉ giới hạn ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Kỳ, Tướng Navarre đã nhấn mạnh rằng không thể đặt vấn đề bảo vệ Lào trước một cuộc tấn công có thể xảy ra của đối phương.”
Nếu Tướng Navarre dẫn lại bài báo này, thì đó là để phàn nàn rằng một nhà báo đã có thể tiết lộ “một cách rất chính xác” những gì được nói tại Ủy ban Quốc phòng quốc gia ngày 24/7, qua đó cảnh báo cho Việt Minh về những điểm yếu của Pháp. Vì không thể nghi ngờ lòng yêu nước của Roger Stéphane, phải thừa nhận rằng đối với một bộ phận dư luận, chiến thắng ở Đông Dương không phải là điều thiết yếu đối với lợi ích của nước Pháp, và do đó việc tiết lộ những bí mật của cuộc chiến này cũng được coi là có thể chấp nhận.
Dù thế nào đi nữa, Tướng Navarre cũng thừa nhận rằng Lào không được bảo vệ. Trong những ngày đầu tháng 11/1953, tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi những dấu hiệu ngày một rõ ràng cho thấy các lực lượng lớn của Việt Minh đang tiến về phía Thái Lan. Cần phải hành động khẩn cấp. Vì vậy, để ngăn Tướng Võ Nguyên Giáp sử dụng Điện Biên Phủ như một “căn cứ hành quân và tiếp tế”[8], Navarre đã quyết định chiếm đóng lòng chảo này. Tuy nhiên, ông vẫn nhấn mạnh: “Dù sao đi nữa, đồng bằng Bắc Bộ vẫn là chiến trường chính theo quan điểm của tôi, và việc duy trì sự hiện diện của chúng ta ở đó trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được phép bị đe dọa”[9]. Và cho đến cuối tháng 2/1954, Tướng Navarre vẫn không biết liệu cuộc tấn công chính của đối phương sẽ nhắm vào đồng bằng hay vào Điện Biên Phủ.
Ít lâu trước đó, vào ngày 18/2/1954, người ta đã thông báo về việc tổ chức một hội nghị tại Genève nhằm tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề Đông Dương. Tướng Henri Navarre, người không hề được báo trước hay tham khảo ý kiến, đã vô cùng tức giận, bởi ông ngay lập tức nhận ra lợi thế mà Việt Minh có thể khai thác từ sự kiện này: “Ngày hội nghị Genève được quyết định chính là ngày số phận của Điện Biên Phủ được định đoạt”. Thật vậy, khi biết rằng dư luận Pháp đã mệt mỏi vì chiến tranh và chính phủ thì nóng lòng kết thúc, các lãnh đạo Việt Minh hiểu rằng chỉ cần giành được một chiến thắng, họ có thể buộc Pháp chấp nhận các điều kiện của mình. Và chính vào lúc đó, họ đã đặt cược tất cả vào Điện Biên Phủ.
Sẽ rất thú vị nếu biết liệu việc Tướng Navarre từ bỏ Nà Sản và Lai Châu có ảnh hưởng nhiều đến quyết định này hay không. Thực vậy, trong “di chúc” của mình, Tướng Raoul Salan đã viết: “Việc từ bỏ Lai Châu và Nà Sản cho phép thu hồi một số tiểu đoàn (7 trong điều kiện hiện tại, 5 trong điều kiện bình thường). Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc trao cho đối phương khả năng đẩy các căn cứ của họ đến đủ gần những mục tiêu thiết yếu cho chiến dịch trong tương lai, và do đó có thể tấn công mạnh vào các mục tiêu này. Điều đó cũng sẽ giải phóng lực lượng cơ động của Việt Minh khỏi những gánh nặng lớn mà việc kiềm chế các trung tâm kháng cự này gây ra cho họ (tương đương 5 trung đoàn trong chiến dịch trước, và 4 trung đoàn hiện tại). Cuối cùng, điều đó sẽ để lại trong tay đối phương những cư dân vừa nhiều lần chứng tỏ lòng trung thành với chúng ta.”

Salan đã trình bày trong một đoạn trước vai trò của các Trung tâm kháng cự gọi là “các căn cứ không – bộ”, vốn khi đó tạo thành tuyến che chắn cho Lào. Chúng có khả năng tự mình chống lại các cuộc tấn công nhỏ và chịu được các đòn đánh lớn sau khi có thêm lực lượng dự bị tăng viện; trở thành bàn đạp cho các chiến dịch tấn công; và cuối cùng, làm căn cứ hậu thuẫn hoặc điểm tập kết cho các lực lượng cơ động nhẹ (đơn vị chính quy, biệt kích hoặc du kích).
Người ta biết rằng trong chính “di chúc” đó, Salan đã nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống này bằng Điện Biên Phủ. Đối với ông, hệ thống này là một tổng thể, không thể bỏ đi một yếu tố nào mà không làm nó mất hiệu quả. Hơn nữa, khi đưa chiến tranh vào một khu vực xa xôi, cách biệt với các trung tâm tiếp tế lớn, bộ chỉ huy Việt Minh hẳn đã nhận ra rằng người chiến thắng là bên duy trì được các tuyến liên lạc của mình trong khi phá vỡ tuyến của đối phương. Điện Biên Phủ sẽ là một trận chiến về hậu cần.
Trong hồ sơ do Bộ tham mưu tại Đông Dương lập ra – nơi lưu giữ “di chúc” của Tướng Salan – còn có một bản ghi chú về tình hình tại vùng biên giới Lào – Thái[10]. Sĩ quan soạn thảo, người dường như rất hiểu Việt Minh – lực lượng đã nhiều lần chứng tỏ trí tuệ, năng lực và sự táo bạo – đã bác bỏ ý tưởng rằng họ có thể tấn công xuống sông Mê Kông trong khi chỉ để lại lực lượng yếu ở những khu vực kết nối họ với hậu phương. Thực vậy, nếu họ dừng bước trong cuộc tấn công mùa xuân 1953 thì đó là bởi họ không thể bảo đảm các tuyến liên lạc của mình – mà chính họ hiểu rõ hơn ai hết về độ mong manh… Họ không thể dễ dàng chấp nhận nguy cơ để các đơn vị của mình bị cắt tiếp tế trong một vùng đất mà họ biết rõ là không thể cung cấp đủ nhu yếu phẩm cho quân đội.
Thế nhưng, một trong những chức năng thiết yếu của Nà Sản và Lai Châu chính là gây cản trở và ngăn chặn việc tiếp tế của Việt Minh. Khi từ bỏ các căn cứ này vào tháng 8 và tháng 12/1953 để thu hồi lực lượng, Tướng Navarre đã tự tước đi hai lợi thế quan trọng. Dĩ nhiên, ông tin rằng việc chiếm đóng Điện Biên Phủ sẽ bù đắp cho những mất mát đó. Ông viết cho Tướng Cogny: “Khi hệ thống của chúng ta được thiết lập vững chắc tại Điện Biên Phủ, đối phương – bị tước đi nguồn cung từ các cánh đồng lúa và bị cản trở trên các tuyến liên lạc bởi các hoạt động không quân và các đơn vị du kích của ta – theo tôi, trong một thời gian dài, họ sẽ không thể tiến hành một cuộc tấn công đủ mạnh để đánh bật chúng ta khỏi vị trí này”.
Văn bản này cũng cho thấy một nhận định của Tướng Henri Navarre mà sau này chứng tỏ là sai lầm. Thực vậy, ông tin rằng đối phương có thể bị cản trở bởi các cuộc ném bom từ trên không. Thế nhưng, Tướng Raoul Salan đã ghi nhận trong “di chúc” của mình, sau khi ca ngợi hệ thống hậu cần của đối phương: “Việt Minh đã hoàn thiện khả năng sửa chữa những thiệt hại mà không quân của ta gây ra cho mạng lưới đường sá của họ. Chúng ta không còn có thể hy vọng chặn đứng hoàn toàn giao thông của họ, mà chỉ có thể làm chậm lại”. Và ông còn nói thêm: “đối phương biết sử dụng rất hiệu quả các biện pháp bảo vệ như phân tán lực lượng, tận dụng địa hình tự nhiên (hang động, chân vách đá…)”.
Chính tại Vichy, trong thời gian nghỉ phép, Tướng Salan đã biết tin về việc rút khỏi Nà Sản: “Tôi cảm thấy nhói lòng. Phải chăng đây là dấu hiệu mở đầu cho việc chúng ta rút khỏi vùng Tây Bắc?” Nhưng ông lại vô cùng ngạc nhiên khi sau đó đọc trên báo rằng Tướng Gilles vừa nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20/11/1953… “Thế là chúng ta lại quay trở lại đó! Trong khi đó, đến ngày 5/12, chúng ta lại bỏ Lai Châu! Tôi thực sự không còn hiểu gì nữa!
“Tôi biết rằng người kế nhiệm tôi vẫn có nhiệm vụ bảo vệ Lào, một thành viên của Liên hiệp Pháp, mà Điện Biên Phủ lại là cửa ngõ chính. Tuy nhiên, căn cứ này trở nên vô lý, vì chúng ta không còn ở Nà Sản và Lai Châu nữa, và khi bị cô lập, lại ở xa Hà Nội đối với không quân của ta, nó trở thành một mục tiêu dễ bị lực lượng cơ động của Việt Minh tấn công – lực lượng này giờ đã được giải phóng khỏi những gánh nặng mà việc phải kiềm chế hai cứ điểm kia trước đây gây ra. Lào chỉ có thể được bảo vệ bằng hệ thống Nà Sản – Lai Châu – Điện Biên Phủ. Ba căn cứ này tạo thành một tổng thể, nằm cách nhau khoảng một trăm kilômét và có thể hỗ trợ lẫn nhau.”
Về vấn đề hậu cần, tướng Salan nhận xét: “Vì chúng ta không còn ở Nà Sản nữa – nơi chặn con đường tỉnh lộ 41 xuất phát từ Hòa Bình, căn cứ tác chiến lớn của đối phương, nên giờ đây tướng Võ Nguyên Giáp, với lực lượng xe vận tải của mình, có thể dễ dàng đưa phương tiện bằng xe tải theo đường bộ đến Tuần Giáo mà chúng ta không thể ngăn cản. Từ đó đến Điện Biên Phủ chỉ còn khoảng 50km đường tốt. Khi Tuần Giáo trở thành căn cứ tiếp tế, việc cung cấp cho lực lượng chủ lực tấn công vào Điện Biên Phủ sẽ trở nên dễ dàng – lần này với cả pháo 105 ly, vì chúng ta biết họ có ít nhất 30 khẩu loại này”.

Tại Điện Biên Phủ, việc tiếp tế của Việt Minh không hề bị gián đoạn. Thậm chí, điều ngược lại đã xảy ra. Khi sân bay không thể sử dụng, quân đội Liên hiệp Pháp chỉ còn có thể tiếp tế bằng cách thả dù. Vào cuối trận, các máy bay phải bay ở độ cao lớn để tránh hỏa lực phòng không đối phương, khiến việc thả hàng vào phạm vi rất hẹp của tập đoàn cứ điểm trở nên khó khăn, và những gì rơi ra ngoài đều bị Việt Minh thu giữ.
Do thiếu phương tiện, Tướng Navarre không thể thực hiện toàn bộ các biện pháp trong kế hoạch hành động và “di chúc” của Tướng Salan. Ưu tiên tái lập lực lượng chủ lực, ông đã bỏ qua việc phòng thủ biên giới Lào. Và chính tại đó, Tướng Giáp đã tấn công. Nếu Navarre hành động khác đi, liệu số phận của Đông Dương có thay đổi không? Có lẽ là không. Trong một cuộc trò chuyện dài giữa hai người tại Hà Nội năm 1946, Tướng Giáp đã nhắc lại với Tướng Salan câu nói nổi tiếng của Carl von Clausewitz: “Chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác”. Câu nói này hoàn toàn phù hợp với chiến tranh ở Đông Dương. Nhưng vì nước Pháp không có một chính sách rõ ràng, họ dường như đang chiến đấu trong khoảng không. Chính phủ không có chính sách tổng thể, cũng không có mục tiêu chiến tranh – tướng Navarre phàn nàn, và ông còn nói rõ hơn: các chính phủ của chúng ta không có mục tiêu chiến tranh nào khác ngoài việc thoát khỏi chiến tranh. Ông cũng lấy làm tiếc rằng nền độc lập mà Pháp trao cho Bảo Đại chỉ là hình thức. Trong khi đó, “lá bài” duy nhất có hiệu quả mà họ có thể sử dụng chính là lá bài độc lập… Nhưng để nó có hiệu quả, cần phải sử dụng nó một cách triệt để và chân thành.
Phải chăng chính Navarre cũng đã từng dạy cho cấp dưới của mình bài học về “phi thực dân hóa quân sự” vào tháng 6/1953? “Quan hệ với quân đội các quốc gia liên kết phải, ở mọi cấp, thấm nhuần tinh thần đồng đội tốt nhất và mong muốn – trong khi vẫn hướng dẫn họ – đưa họ đến độc lập hoàn toàn càng nhanh càng tốt. Lập luận cho rằng chúng ta nên tự làm thay vì để họ làm, với lý do rằng chúng ta làm tốt hơn, không phải lúc nào cũng đúng, và ngay cả khi đúng (mà thường là vậy) thì cũng không dẫn đến kết quả gì. Chỉ có thông qua kinh nghiệm cá nhân mà người ta học hỏi – nhất là khi kinh nghiệm đó khó khăn. Vậy hãy để họ tự trải nghiệm, đó là cách duy nhất để họ đạt được hiệu quả”[11].
Tuy nhiên, liệu các nhà lãnh đạo Pháp có thể công khai tuyên bố mạnh mẽ nền độc lập của các quốc gia Đông Dương hay không? Điều đó có phải là khơi dậy hoặc tái khơi dậy những khát vọng tương tự ở Bắc Phi và những nơi khác hay không?■
Philippe Schillinger
Lê Hằng Nga (dịch)
Chú thích:
[1] Cơ quan Lịch sử quân đội Lục quân (SHAT), hồ sơ 10 H 943
[2] Đặc biệt là Đại tá Pierre Rocolle, Pourquoi Diên – Biên – Phu?, NXB Flammarion, Paris, 1968
[3] Kế hoạch hành động ngày 19/3/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[4] Henri Navarre, Agonie de L’Indochine (1953 – 1954), NXB Plon, Paris, 1956
[5] Raoul Salan, Mémoire, fin d’un empire, tome II: Le Viêt – minh mon adversaire, octobre 1946 – octobre 1954, Paris, NXB Presses de la Cité, tr. 409 – 412
[6] Hồ sơ của Phòng 3, Bộ Tổng Tham mưu liên quân và lục quân gửi tới Tổng chỉ huy ngày 5/6/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[7] Chỉ thị định hướng thành lập lực lượng tác chiến của tướng Henri Navarre, ngày 25/8/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[8] Chỉ thị riêng của tướng Henri Navarre gửi tướng chỉ huy Lục quân tại Bắc Việt Nam và Đại tá chỉ huy Lục quân tại Lào, ngày 14/11/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[9] Chỉ thị định hướng của tướng Henri Navarre gửi tướng chỉ huy Lục quân tại Bắc Việt Nam, ngày 2/11/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[10] Bản ghi chú ngày 15/5/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943
[11] Chỉ thị chung của Tướng Navarre, ngày 27/6/1953, SHAT, hồ sơ 10 H 943