Bay trong bóng đêm, hồi hộp tiến vào không phận miền Bắc và thả điệp viên xuống lãnh thổ đối phương – đó là những gì ông Nguyễn Cao Kỳ kể lại trong cuốn hồi ký Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam xuất bản tại Mỹ năm 2002. Từ góc nhìn của người trực tiếp tham gia các phi vụ xâm nhập do Không lực Việt Nam Cộng hòa phối hợp cùng CIA triển khai năm 1961, tác giả không chỉ mô tả chi tiết quá trình huấn luyện và thực hiện các phi vụ này, mà còn thừa nhận những sai lầm trong cách CIA và chính quyền Sài Gòn đánh giá xã hội miền Bắc – yếu tố khiến hầu hết các điệp viên bị phát hiện chỉ sau một thời gian ngắn. Khi chuyển ngữ, chúng tôi giữ nguyên cách dùng từ của tác giả để bảo đảm tính khách quan.
Đến năm 1960, hai miền Việt Nam đã ở trong tình trạng chiến tranh dù không tuyên bố. Chính quyền cộng sản thường xuyên đưa các điệp viên tình báo và những kẻ xâm nhập khác vào miền Nam. Bởi chúng tôi có một xã hội tương đối tự do, nhiều người trong số họ đã không bị phát hiện. Nhưng chúng tôi lại không thu thập được bất kỳ tin tình báo nào từ miền Bắc. Một ngày nọ tôi nhận được cuộc gọi từ Đại tá Vinh, Tư lệnh Không lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Ông cho biết Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) vừa đề xuất một nhiệm vụ đưa các điệp viên tình báo vào miền Bắc Việt Nam bằng cách sử dụng phi trường và máy bay của miền Nam Việt Nam, “Anh nghĩ anh có thể làm được không?”, ông hỏi.
“Tất nhiên rồi”, tôi đáp. “Cứ cho tôi biết các ông muốn gì, và chúng tôi sẽ thực hiện”.
Khi cân nhắc nhiệm vụ này, tôi thấy cách tốt nhất để đưa người xâm nhập vào miền Bắc bằng đường không là bay từ biển vào ban đêm, ở độ cao rất thấp, dưới tầm radar hải quân của đối phương, rồi men theo một con sông tiến sâu vào nội địa đến vùng biên giới miền núi tương đối thưa dân, ở đó các điệp viên có thể nhảy dù xuống đất. Khi Vinh yêu cầu cung cấp danh sách phi hành đoàn đầu tiên được huấn luyện cho nhiệm vụ này, tên tôi đứng đầu danh sách. Vinh không ưng điều này chút nào. “Anh là chỉ huy phi đoàn”, ông nói. “Anh không thể tham gia một nhiệm vụ như thế”.
“Cho tôi một lý do vì sao tôi không thể đi”, tôi đáp.
“Vì anh là chỉ huy. Còn đây là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm!”.
“Tôi phải bay phi vụ đầu tiên để chứng minh nhiệm vụ này khả thi”, tôi nói. “Một khi chúng ta biết nó khả thi, tôi có thể chỉ cho các phi công khác cách thực hiện”.
Vinh không hài lòng nhưng cuối cùng cũng đồng ý. Một vài huấn luyện viên là người Mỹ mặc thường phục từ Hoa Kỳ bay sang, và chúng tôi bắt đầu chương trình huấn luyện ban đêm, lái những chiếc C-47 từ Sài Gòn đến vùng núi gần Đà Lạt, cách khoảng 100 dặm về phía Đông – Bắc. Chúng tôi làm tốt đến mức chỉ sau vài ngày, rõ ràng là chúng tôi không cần đến sự trợ giúp của người Mỹ. Họ về nước, và sau đó, hết đêm này đến đêm khác, trong mọi điều kiện thời tiết, chúng tôi bay các phi vụ thực tập, men theo lòng sông xuyên qua những đèo núi hẹp, học cách cơ động ở độ cao thấp trong không phận chật hẹp vào ban đêm.

Mục tiêu của chúng tôi là thả những nhóm nhỏ điệp viên mang theo máy vô tuyến. Sau khi đáp xuống, họ sẽ phân tán và cư trú tại các thị trấn khác nhau. Một khi đã thiết lập được chỗ đứng, họ có thể được sử dụng cho hầu như bất kỳ mục đích tình báo nào hoặc sau cùng có thể sẽ trở thành lực lượng phá hoại. Tôi không cần biết nhiều về phần đó của nhiệm vụ; công việc của tôi đơn thuần chỉ là đưa các điệp viên ra miền Bắc rồi quay trở về an toàn và không bị phát hiện.
Vài tuần trước phi vụ đầu tiên, tôi được giới thiệu với William Colby, người sau này sẽ trở thành Giám đốc CIA; lúc đó ông phụ trách nhiệm vụ của chúng tôi. Colby là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, nhỏ con, điển trai, nói tiếng Pháp, không nói tiếng Việt. Với cặp kính dày và phong thái hiền lành dễ gây thiện cảm, ông có thể bị nhầm là một sinh viên hoặc một kế toán viên. Chúng tôi trở thành bạn bè, thường cùng nhau đi ăn tối hoặc uống gì đó. Khi hiểu ông hơn, tôi nhận ra phía sau cặp kính vô hại ấy là một bộ óc xuất chúng – ông không bỏ sót điều gì. Colby dễ chịu, là người bầu bạn tốt, nhưng lúc nào cũng nghiêm túc. Trong suốt những năm tôi quen ông, tôi chỉ thấy ông cười đúng một lần.
Để chuẩn bị cho nhiệm vụ xâm nhập miền Bắc Việt Nam, CIA đã dựng một mô hình thu nhỏ toàn bộ đường bay, đầy đủ mọi chi tiết địa hình quan trọng, bao gồm núi non, sông ngòi và cầu cống.
Chúng tôi chuyển đến căn cứ không quân Biên Hòa ở phía bắc Sài Gòn để bước vào giai đoạn huấn luyện cuối cùng. Từ lúc ấy, toàn đội bị cấm trại hoàn toàn và không ai được rời căn cứ vì bất kỳ lý do gì. Việc của tôi là đưa chiếc máy bay đến đúng vị trí vào đúng thời điểm. Đây là một phi vụ ban đêm, và sẽ có rất ít địa mốc nhìn thấy được dọc đường bay. Một khi đã vào sâu trong đất liền, chúng tôi phải bay theo phương pháp ước lượng đường bay. Điều đó có nghĩa là chia kế hoạch bay thành những chặng nhỏ khoảng năm phút mỗi chặng, theo dõi cực kỳ cẩn thận tốc độ bay, và canh giờ để thực hiện từng lần đổi hướng đã được tính toán từ trước. Tất cả đều diễn ra trong đêm tối, trong khi phi công hoàn toàn không có thiết bị hỗ trợ quan sát ban đêm. Chúng tôi cũng không dám dùng đèn trong buồng lái, kể cả để đọc bản đồ. Tôi phải ghi nhớ toàn bộ lộ trình bay đến từng chi tiết nhỏ.
Chúng tôi dành hơn 12 giờ mỗi ngày để luyện tập điều hướng bay và phần còn lại của nhiệm vụ. Trong quá trình huấn luyện này, cũng như trong phi vụ thực tế, phi công phụ và hoa tiêu đứng phía sau tôi, liên tục báo thời gian từng phút một. “Ba phút, hai phút nữa, sắp tới khúc quanh của con sông, rẽ trái 30 độ, còn một phút nữa…”. Tôi phải nhớ mọi chi tiết trong đầu. Để bảo đảm tôi không mắc sai lầm, phi công phụ và hoa tiêu của tôi cũng phải thuộc lòng kế hoạch bay.
Chúng tôi ngồi trong buồng lái của một chiếc C-47 đặt bên trong nhà chứa máy bay đóng kín, xem đi xem lại bản kế hoạch suốt ngày đêm. Ngay cả khi tôi ngủ, đường bay ấy vẫn luôn ở trong đầu tôi: bản đồ, lộ trình, độ cao của địa hình xung quanh, phải bay bao nhiêu phút, bao nhiêu giây, ở tốc độ nào cho từng chặng, chỗ nào con sông đổi hướng, vị trí các cây cầu, đường dây điện hoặc những chướng ngại khác. Ngay cả bây giờ, tôi nghĩ mình vẫn có thể bay phần lớn tuyến đường đó mà không cần nhìn bản đồ. Chỉ cần cho tôi một chiếc C-47.
Một ngày trước phi vụ, chúng tôi bay ra Đà Nẵng, cách Sài Gòn khoảng 300 dặm về phía bắc. Chúng tôi cố nghỉ ngơi, nhưng nếu mọi người đều hồi hộp như tôi, thì tôi đồ rằng chẳng ai ngủ được bao nhiêu. Lúc chập tối, chúng tôi, cả điệp viên lẫn phi hành đoàn, cùng nhau đi ăn ở một nhà hàng Hoa cho bữa ăn có thể là cuối cùng của mình. Khi tất cả ngồi quanh bàn, phi công phụ của tôi nói: “Thưa Đại tá, chúng ta có mười ba người! Số xui quá! Tôi nên ở lại đây”.
Tôi hiểu anh ta đang sợ hãi. “Mười ba hay mười ba rưỡi thì anh vẫn sẽ đi”, tôi nói.
Sau khi trời tối, chúng tôi kiểm tra máy bay lần cuối. Khi vầng trăng tròn nhô lên trên Biển Đông, sáu hay bảy người Việt Nam mặc quần áo nông dân bình thường, tối màu, chất thiết bị và dù vào máy bay của chúng tôi rồi leo lên. Tất cả bọn họ đều là quân tình nguyện, hưởng lương của CIA Mỹ và được huấn luyện đặc biệt cho nhiệm vụ này. Phải rất lâu sau tôi mới biết thêm nhiều điều về họ.
Giống như hành khách, phi hành đoàn mặc bộ đồ bà ba đen đặc trưng của nông dân Việt Nam. Trong túi chúng tôi có một ít tiền Bắc Việt Nam, thuốc lá Bắc Việt Nam, thậm chí cả diêm Bắc Việt Nam. Nếu máy bay bị rơi trên lãnh thổ đối phương, chúng tôi phải có khả năng trà trộn vào dân địa phương. Mỗi người chúng tôi cũng mang theo 100 đô la Mỹ, phòng khi cần hối lộ. Ngay lúc ấy sự chuẩn bị này vẫn có vẻ buồn cười: Nếu máy bay rơi xuống vùng núi đó hay xuống biển, tôi không nghĩ chúng tôi còn kịp nhảy dù. Và nếu máy bay rơi, chúng tôi sẽ may mắn lắm mới còn cơ hội dùng đến số tiền hay thuốc lá mang theo.

Chúng tôi cất cánh từ Đà Nẵng, gần đầu phía nam của Vịnh Bắc Bộ, lấy độ cao vài nghìn feet rồi hướng ra biển. Khi đất liền đã khuất khỏi tầm mắt, tôi từ từ đẩy cần lái về phía trước. Chúng tôi hạ độ cao, và khi những mảng bọt trắng trên từng ngọn sóng hiện rõ trước mắt, tôi giữ máy bay bay ngang. Chúng tôi đang bay cách mặt nước chỉ hai, ba feet với tốc độ gần 200 dặm một giờ, nhanh hết mức có thể, và nếu radar của đối phương quét về phía chúng tôi, chúng tôi hy vọng tín hiệu phản xạ của máy bay sẽ bị hòa lẫn vào những nhiễu động do mặt biển luôn chuyển động tạo ra.
Sau khi bay về hướng đông vài phút, tôi vòng mũi máy bay sang trái cho đến khi nó hướng về phía bắc – tây bắc, khoảng 330 độ, đưa chúng tôi thẳng đến cửa sông Hồng. Tại Thanh Hóa, chúng tôi rẽ vào đất liền, tiến vào không phận Bắc Việt Nam.
Hoa tiêu đứng phía sau tôi nói: “Đất nước tôi đây rồi!” Tất cả chúng tôi đều cảm nhận điều đó. Phần lớn phi hành đoàn của tôi, và toàn bộ các điệp viên CIA, đều là người Bắc, và đây là lần đầu tiên chúng tôi ở gần quê hương mình đến thế. Đó là một cảm giác kỳ lạ và bồi hồi, nhưng tôi gác nó sang một bên để nghĩ tới sau. Tôi cần tập trung toàn bộ sự chú ý vào nhiệm vụ trước mắt.
Vào đến đất liền, chúng tôi men theo sông Hồng. Có lẽ chúng tôi đã bay ngang qua khu vực mà mười năm trước tôi từng tuần tra trong Tiểu đoàn 20, ở khoảng cách chỉ trong tầm bắn của súng trường. Nhờ ánh trăng tròn phía sau lưng soi rõ địa hình bên dưới và không còn phải lo ngại radar hải quân nữa, tôi cho máy bay tăng độ cao vừa đủ để tránh các cây cầu và đường dây điện. Ở phía bắc và tây Hà Nội, chúng tôi bay qua khu vực gần ngôi nhà thời thơ ấu của tôi ở Sơn Tây. Địa hình bắt đầu nhô cao, thung lũng sông dần thu hẹp lại, những khối núi đen sẫm sừng sững hiện ra tứ phía. Trong khi phi công phụ và hoa tiêu liên tục đọc các điểm đổi hướng, chúng tôi tìm thấy bãi thả quân mà không gặp khó khăn gì. Theo những gì tôi có thể thấy dưới ánh trăng, mọi chiếc dù đều đã bung ra.
Không thể nào dưới mặt đất lại không có ai nghe thấy chúng tôi bay qua, nhưng họ không có thời gian để phản ứng. Tuy nhiên, nếu quay về theo đúng đường cũ, chúng tôi biết quân cộng sản sẽ chờ sẵn. Vì vậy sau khi thả người xong, chúng tôi tiếp tục bay về phía tây sang Lào. Khi đã ra khỏi không phận Bắc Việt Nam, tôi lấy độ cao 12.000 feet rồi bay về phía nam cho đến khi có thể rẽ sang phía đông. Vào tới không phận thân thiện, cuối cùng chúng tôi cũng có thể thả lỏng. Tôi bật chế độ lái tự động trong khi cả bọn hút vài điếu thuốc lá.
Trời vừa rạng sáng khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn và lăn bánh vào một nhà chứa máy bay không biển hiệu. Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy Colby đang đợi bên trong cùng một nhóm người Mỹ và Việt Nam – và hai thùng sâm panh Pháp hảo hạng. Chưa bao giờ tôi thấy thứ rượu ấy ngon đến thế.
Chúng tôi huấn luyện năm hay sáu phi hành đoàn cho những nhiệm vụ này, và trong mấy tháng sau đó, tôi thực hiện thêm vài chuyến bay khác, mỗi chuyến theo một lộ trình và đến một bãi thả khác nhau. Chúng tôi hoàn thiện và tinh chỉnh các quy trình tác chiến tiêu chuẩn của mình. Chẳng hạn, thay vì lưu lại Đà Nẵng hàng giờ đồng hồ vào ngày thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi bay thẳng từ Sài Gòn và chỉ dừng tại Đà Nẵng để tiếp nhiên liệu và nhận thông tin thời tiết cập nhật phút chót.
Sau phi vụ thứ hai hay thứ ba của chúng tôi, Colby đến Tân Sơn Nhứt cùng một phái đoàn người Mỹ từ Washington. Tất cả đều mặc thường phục; tôi đoán họ là các quan chức CIA đến để quan sát xem các phi công của tôi hoạt động hiệu quả thế nào. Colby đề nghị tôi chở họ bay từ Sài Gòn ra Huế, và tôi thực hiện chuyến bay ấy hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, trên đường về, tôi quyết định cho họ nếm thử cảm giác mà các điệp viên của họ phải trải qua. Tôi cho máy bay bay ra biển rồi vòng xuống phía nam và hạ thấp đến mức luồng gió từ cánh quạt thổi tung lớp bọt trên các ngọn sóng. Sau đó tôi đẩy mạnh cần ga và bay với tốc độ tối đa. Về sau, phi hành đoàn kể lại với tôi rằng lúc ấy, tất cả những người Mỹ trên máy bay đều tái mét mặt.
Một giờ sau, khi đã đứng an toàn trên sân đỗ Tân Sơn Nhứt, Colby mỉm cười – đó là lần đầu tiên tôi thấy ông ấy cười. “Lần tới bay với anh, tôi sẽ mang theo cần câu cá”, ông nói.
Vài tuần sau đó, vào khoảng năm giờ chiều của ngày tôi phải thực hiện phi vụ xâm nhập thứ ba, tôi rời văn phòng tại phi đoàn vận tải và về nhà để chuẩn bị cất cánh lúc 8 giờ tối. Khi lái xe qua khu nhà ở trong căn cứ, tôi thấy Trung úy Phan Thanh Vân, một trong những phi công giỏi nhất của tôi, đang đứng trước căn hộ của anh. Trái quy định, anh thường cởi trần khi bay để chống nóng và hiếm khi chịu cài dây an toàn. Thấy tôi, anh vẫy tay. Tôi dừng xe lại. Anh mời tôi vào uống một ly nhưng tôi từ chối và giải thích rằng tối nay tôi có nhiệm vụ bay. “Tối nay tôi có hẹn đi nhảy với một em ở Sài Gòn, nhưng giờ phải gọi điện hủy hẹn thôi”, tôi nói. “Có thể mai xong việc tôi sẽ ghé qua”.
“Nếu tối nay anh có hẹn thì để tôi đi cho”, Vân nói. Vân là một tay sát gái đẹp trai nổi tiếng ở các hộp đêm Sài Gòn. “Tôi muốn bay phi vụ đó tối nay”.
“Nếu anh muốn nhận thì cứ đi”, tôi đáp.
Khoảng 1 giờ sáng, sĩ quan trực gọi điện tới hộp đêm để báo với tôi rằng chiếc máy bay đã mất tích và có thể đã rơi ở miền Bắc. Phải gần một thập niên sau tôi mới biết máy bay của Vân đã bị bắn hạ. Khi máy bay lao xuống đất, anh bị hất văng qua cửa kính buồng lái – và nhờ đó thoát khỏi đám cháy đã cướp đi sinh mạng của gần như tất cả những người khác trên máy bay.


Mặt của Vân bị những mảnh kính chắn gió rạch nát, nhưng các bác sĩ phẫu thuật ở Hà Nội đã khôi phục được phần lớn gương mặt điển trai của anh. Tuy nhiên, sau ca phẫu thuật, anh bị giam tại nhà tù Hỏa Lò, “Hanoi Hilton” khét tiếng. Cơ khí viên, người sống sót còn lại trong phi vụ đó, đã qua đời tại đây. Sau vài năm, Vân được trả tự do và phải chật vật kiếm sống bằng những công việc chân tay ở Hà Nội. Sau đó, một người thân của anh ở Pháp, thông qua Đại sứ Pháp, đã vận động để Bắc Việt Nam cho phép anh di cư sang Pháp.
*
Phi vụ xâm nhập tiếp theo đã cho tôi thấy việc lạc đường hoặc cạn nhiên liệu có thể xảy ra dễ dàng đến mức nào. Sau một chuyến bay suôn sẻ vào Bắc Việt Nam, chúng tôi tới bãi thả vào một đêm quang mây, với ánh trăng sáng phía sau lưng giúp soi rõ địa hình bên dưới. Tất cả điệp viên đều nhảy ra gọn gàng, tất cả dù đều bung – một cú thả hoàn hảo. Chúng tôi tăng độ cao rồi quay xuống phía nam, một lần nữa bay xuyên qua Lào. Khi đã lên độ cao hành trình và ra khỏi không phận Bắc Việt Nam, mọi thứ đều diễn ra bình thường. Vì vậy tôi nói với phi công phụ và hoa tiêu: “Về nhà thôi”. Tôi quay ra khoang hàng, trùm chăn ngủ.
Khoảng hai giờ sau, hoa tiêu đánh thức tôi. “Thưa chỉ huy”, anh nói. “Tôi không biết chúng ta đang ở đâu. Tôi nghĩ chúng ta đã gặp một luồng gió ngang rất mạnh – có thể ta đang ở đâu đó trên không phận Miến Điện. Hoặc Trung Quốc”.
Tôi nhìn ra cửa sổ khoang máy bay. Chúng tôi đang ở độ cao khoảng 13.000 – 14.000 feet, bên dưới là một biển mây trắng trải dài vô tận về mọi hướng. Chúng tôi xoay thử mọi tần số, nhưng la bàn vô tuyến không thể bắt được tín hiệu từ bất kỳ đài nào để xác định phương hướng. Lạ hơn nữa, hệ thống vô tuyến tầm xa cũng không hoạt động. Tôi suy nghĩ vài phút. “Được rồi, chúng ta đang ở quá xa về phía tây bắc, vậy hãy bay về hướng đông nam. Khoảng một tiếng rưỡi nữa chúng ta sẽ tới bờ biển Việt Nam gần Đà Nẵng”. Thực ra tôi chỉ đang phỏng đoán, nhưng không thể để phi hành đoàn biết điều đó. Mặc dù phi công phụ nói rằng có lẽ chúng tôi đang ở trên không phận Miến Điện hoặc Trung Quốc, nhưng sự thật là chúng tôi có thể đang ở bất cứ đâu.
Miền Trung Việt Nam có những dãy núi cao chót vót, nhưng sau khi bay theo la bàn suốt 90 phút và vượt quãng đường khoảng 300 dặm, chúng tôi vẫn không nhìn thấy gì ngoài mây, như thể cả hành tinh đã bị bông trắng phủ kín một cách bí ẩn. Nếu lúc chuyển hướng sang đông nam chúng tôi thực sự ở gần vị trí mà tôi phỏng đoán, thì lúc này đáng lẽ chúng tôi phải ở gần Đà Nẵng, thậm chí có thể đã bay qua bờ biển và ra đến biển rồi.
Nhiên liệu của chúng tôi gần cạn sạch. Lựa chọn duy nhất của tôi là hạ độ cao, với hy vọng khi xuyên qua lớp mây chúng tôi sẽ thấy biển. Dĩ nhiên, nếu tôi đoán sai, có lẽ chúng tôi sẽ đâm thẳng vào núi.
Vẫn tỏ ra đầy tự tin, tôi nói với phi hành đoàn rằng tôi có thể ngửi thấy mùi Đà Nẵng và mùi biển. Tôi giảm ga và máy bay bắt đầu từ từ hạ xuống xuyên qua mây. Cảm giác như đang bơi trong một đại dương bông gòn – trong vài phút chúng tôi không thấy gì ngoài những đám mây ngày càng tối hơn khi độ cao giảm dần. Bất cứ lúc nào tôi cũng nghĩ mình có thể sắp đâm vào núi. Khi xuống qua mức 7.000 feet, tôi mới bắt đầu thở lại bình thường. Hoặc là chúng tôi hoàn toàn lạc đường, hoặc là đang ở trên biển.
Cả hai đồng hồ nhiên liệu đều nằm ở vạch trống; có lẽ chúng tôi chỉ còn 10 phút bay – hoặc thậm chí vài giây. Tôi ra lệnh chuẩn bị hạ cánh xuống biển. Nếu nhìn thấy mặt nước kịp lúc, tôi sẽ cố giữ góc tiếp nước đủ thoải để hy vọng máy bay còn nguyên vẹn đủ lâu cho chúng tôi kịp thả bè cứu sinh.
Thời đó, máy đo độ cao được hiệu chỉnh trên mặt đất bằng cách điều chỉnh theo áp suất không khí. Khi chúng tôi rời Sài Gòn, trời quang mây, dấu hiệu của áp suất cao. Giờ đây, rõ ràng áp suất đã thấp hơn. Tôi biết chúng tôi không thể hoàn toàn tin tưởng thiết bị này sẽ cho độ cao chính xác. Khi kim đồng hồ độ cao tụt xuống dưới mức 2.000 feet, những đám mây dày đặc không thể xuyên qua nhường chỗ cho những màn mưa xối xả. Chúng tôi đang ở giữa một trận mưa như trút nước! Tôi bật đèn hạ cánh nhưng không thấy gì ngoài những giọt mưa lấp lánh. Lúc đó khoảng 3 giờ sáng, và khi tắt đèn đi, phía ngoài kính chắn gió đen đặc như bộ đồ bà ba của một người nông dân. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục hạ độ cao.
Khi đồng hồ độ cao chỉ 300 feet, những con sóng biển hiện ra trong ánh đèn hạ cánh. Tôi giữ máy bay bay ngang và nhắc lại lệnh cài dây an toàn, chuẩn bị tiếp nước. Tôi ước gì có thể phát tín hiệu SOS, nhưng hệ thống vô tuyến vẫn hỏng. Ngay cả khi đáp xuống biển mà không gặp sự cố, chúng tôi vẫn có thể phải trôi dạt hàng ngày, thậm chí hàng tuần liền, cho tới khi cơn khát làm chúng tôi hóa điên.
Ở độ cao 200 feet, trong lúc ghì chặt vô lăng điều khiển và chuẩn bị đưa máy bay đáp xuống những con sóng bên dưới, tôi liếc qua cửa sổ bên trái và nhìn thấy một đốm sáng nhỏ. Ngay khi ý nghĩ “Khoan đã, đó hẳn là bờ biển Nam Việt Nam” lóe lên trong đầu, tôi lập tức nghiêng máy bay sang trái và kéo mạnh mũi máy bay lên. Đó là Đà Nẵng, cách chừng năm phút bay. Có lẽ chúng tôi vẫn còn kịp tới nơi.
Máy bay gầm rú trên bầu trời thành phố ở độ cao thấp đến mức tôi tin chắc nhiều người đã bật dậy khỏi giường còn chó thì sủa inh ỏi. Vào những năm đó, đường băng đóng cửa ban đêm. Không có ai trong đài kiểm soát, không có đèn để làm mốc đáp xuống. Nhưng tôi đã bay qua thành phố này và hạ cánh xuống sân bay này hàng chục lần, hơn nữa chúng tôi được huấn luyện rất kỹ cho các hoạt động bay đêm. Tôi bật đèn hạ cánh và men theo bờ biển cho đến khi sân bay hiện ra, rồi nghiêng gấp máy bay và đáp xuống. Chúng tôi lăn bánh được khoảng 300 mét thì cả hai động cơ khục khặc rồi tắt hẳn. Máy bay trôi thêm một đoạn rồi dừng lại giữa đường băng. Sau hơn tám giờ trên không, chúng tôi đã đốt sạch từng giọt xăng trong các thùng nhiên liệu.
Trong lúc chờ vài phút để có người ra đón, tôi chợt nhận ra rằng tất cả chúng tôi đều đang mặc bộ đồ bà ba đen, giống hệt nông dân. Giống hệt Việt Cộng! Chúng tôi đi về phía tường rào, và hai lính gác có vũ trang xuất hiện.
“Đứng lại, ai đó!”, một người hô lên.
“Cao Kỳ!”, người của tôi gần như đồng thanh hét lớn.
“Mật khẩu là gì?”, một người cầm súng trường hỏi.
“Tôi không biết”, tôi đáp. “Gọi chỉ huy căn cứ đi”.
Rồi viên chỉ huy căn cứ xuất hiện nhưng vẫn còn ngái ngủ, không biết phải làm gì. “Các anh làm gì ở đây?”, ông hỏi. “Có chuyện gì vậy?”
Đêm đó chúng tôi quả thực đã gặp may, bởi viên chỉ huy đã kịp tới trước khi một trong hai lính gác hoảng hốt nổ súng vào chúng tôi, và trên hết là vì chúng tôi đã không rơi xuống biển.

Tuy nhiên, vận may như thế không đến với những người dũng cảm mà chúng tôi đã thả xuống miền Bắc. Từng người một trong số họ đều bị cộng sản bắt, phần lớn chỉ trong vòng vài ngày sau khi xâm nhập. Một số bị bắn chết, số còn lại bị giam giữ. Có người bị cầm tù hơn 30 năm rồi mới được thả. CIA, dù đã đầu tư rất nhiều công sức vào chiến dịch này, lại không để ý rằng hầu như tất cả người dân Bắc Việt đều đi dép. Tất cả những người chúng tôi thả xuống đều đi giày. Chúng tôi cũng không nhận ra rằng chỉ sau 5 năm nắm quyền, chính quyền cộng sản đã truyền bá tư tưởng trong dân chúng sâu rộng đến mức tồn tại vô số khác biệt tinh vi nhưng dễ thấy trong cách nói năng và hành xử của người miền Bắc và người miền Nam. Có những khác biệt trong từ vựng – chẳng hạn một số từ mà người miền Nam sử dụng – và trong cách người ta chuyện trò xã giao. Người miền Bắc thậm chí còn ăn uống khác, dùng gia vị khác để nêm canh, và cầm muỗng bằng những ngón tay khác.
Hơn nữa, chính quyền cộng sản đã tổ chức xã hội của họ chặt chẽ đến mức bất kỳ người nào không thuộc diện quen mặt trong một cộng đồng nhỏ khép kín đều lập tức bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Khi những người chúng tôi thả xuống các khu vực thưa dân xuất hiện ở các thị trấn hay làng mạc, họ nhanh chóng bị nhận ra là người từ nơi khác đến.
Như vậy chúng tôi đã phạm sai lầm, và những sai lầm ấy đã khiến nhiều người phải trả giá bằng mạng sống hoặc tự do. Tuy nhiên, chúng tôi đang chiến đấu trong một cuộc chiến tranh. Chúng tôi buộc phải tìm cách thu thập tình báo, cho dù phải hy sinh hàng chục người. Tôi nghĩ các điệp viên hiểu điều này. Đa số sống sót qua thời gian bị giam cầm, và khi cuối cùng họ được trả tự do vào năm 1995, Chính phủ Hoa Kỳ đã trao cho mỗi người một khoản bồi thường trị giá 50.000 đô la. Bồi thường nhiều đến mấy cũng không đủ để bù đắp cho những đau khổ mà họ đã phải chịu đựng, nhưng sự phục vụ của họ đã được ghi nhận với lòng biết ơn, và ngoài khoản tiền đó, họ còn được chào đón sang sinh sống tại Hoa Kỳ nếu muốn. Tôi tin rằng tất cả họ đều đã rời Việt Nam.
Đến cuối năm 1961, CIA nhận ra rằng nỗ lực xây dựng các lực lượng bí mật ở miền Bắc đã gặp phải những vấn đề nghiêm trọng, và chiến dịch này bị chấm dứt. Ở miền Nam, lực lượng cộng sản, lúc này tự gọi mình là Việt Cộng, hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng, bắt đầu đẩy mạnh các cuộc tấn công du kích. Các vụ phục kích nhằm vào Quân lực VNCH ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn. Để đối phó, Quân lực VNCH triển khai thêm các chiến dịch chống nổi dậy và tiếp nhận thêm cố vấn Mỹ.■
Thanh Trà (dịch)