27 tháng 7 – mệnh lệnh của trái tim và hành trình đưa các anh hùng liệt sĩ trở về

Có những ngày trong lịch sử dân tộc không chỉ là mốc thời gian, mà còn là một lời nhắc nhở sâu xa về đạo lý làm người, về truyền thống của một quốc gia. Ngày 27 tháng 7 hằng năm – Ngày Thương binh – Liệt sĩ – là một ngày như thế. Đó là ngày cả nước cúi đầu trước anh linh những người đã ngã xuống, tri ân những thương binh, bệnh binh đã gửi lại một phần máu xương nơi chiến trường, và cũng là ngày mỗi người Việt Nam tự soi lại trách nhiệm của mình đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của đất nước.

Ngày Thương binh – Liệt sĩ được khơi nguồn từ tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tư tưởng nhân văn sâu sắc của Người đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngay trong những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi chính quyền cách mạng còn bộn bề gian khó, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn ác liệt, Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Người hiểu rằng, một dân tộc muốn đi xa không thể quên những người đã mở đường bằng máu xương của mình.

Thấm nhuần tư tưởng của Bác, ngày 27 tháng 7 năm 1947 được chọn là Ngày Thương binh toàn quốc. Đó là một quyết định mang ý nghĩa lịch sử và đạo lý lớn lao. Trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, đất nước còn nghèo, việc dành riêng một ngày để toàn dân tưởng nhớ, tri ân và chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ đã khẳng định tầm nhìn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc phải gắn với nghĩa tình, chiến thắng không thể tách rời lòng biết ơn, và xây dựng đất nước không thể quên những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Bác Hồ viếng nghĩa trang liệt sĩ. Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bày tỏ lòng biết ơn bằng những lời trang trọng, mà Người luôn biến tư tưởng ấy thành hành động cụ thể, thiết thực. Từ những lá thư Người gửi thương binh, gia đình liệt sĩ, đến lời căn dặn các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân dân chăm lo người có công, tất cả đều thấm đẫm tinh thần “hiếu nghĩa bác ái”. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, thương binh, liệt sĩ đã hiến dâng cho Tổ quốc phần quý giá nhất của đời mình cho Tổ quốc; phần trách nhiệm còn lại thuộc về Nhà nước, nhân dân và các thế hệ mai sau.

Trải qua gần tám thập kỷ, Ngày Thương binh – Liệt sĩ đã trở thành nét đẹp truyền thống về chính trị, văn hóa và đạo đức bền vững của dân tộc Việt Nam. Mỗi năm, cứ đến tháng Bảy, từ nghĩa trang Trường Sơn, Đường 9, Thành cổ Quảng Trị, Vị Xuyên, Tây Ninh, Điện Biên, cho đến những nghĩa trang liệt sĩ nơi làng quê, phường xã, khói hương lại nghi ngút. Những đoàn người lặng lẽ thắp nén nhang thơm, đặt cành hoa tươi trước những hàng bia mộ. Có những ngôi mộ đã có đầy đủ tên tuổi, quê quán, ngày hy sinh; nhưng cũng còn đó biết bao nấm mộ chỉ khắc vỏn vẹn hai chữ “Liệt sĩ”. Hai chữ ấy vừa thiêng liêng, vừa nhói buốt tâm can.

Lịch sử hiện đại của Việt Nam là hành trình của một dân tộc phải trả giá rất lớn để giữ gìn độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, hàng triệu người con đất Việt đã hy sinh, gửi lại một phần xương máu, tuổi trẻ nơi chiến trường. Có người ra đi khi vừa mười tám, đôi mươi. Có người chưa kịp để lại một bức ảnh rõ mặt. Có người mãi mãi nằm lại nơi rừng sâu, núi thẳm, nơi biên giới, hải đảo xa xôi hay trên đất bạn Lào, Campuchia. Và có những người mẹ tiễn một người con, hai người con, rồi cả chồng lẫn con ra trận, để suốt cuộc đời còn lại chỉ là gian thờ lạnh và những ký ức nghẹn ngào.

Sự hy sinh cao cả ấy đã dệt nên nền độc lập hôm nay. Nhưng cũng chính vì những mất mát quá lớn lao, công tác đền ơn đáp nghĩa không chỉ là một chính sách nhất quán, một trách nhiệm thường xuyên, mà còn là một mệnh lệnh thiêng liêng từ lương tâm. Nhiều chủ trương, chính sách thiết thực của Đảng và Nhà nước đã luôn đồng hành, chăm lo cho người có công, gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh cùng các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Những phong trào xây nhà tình nghĩa, phụng dưỡng mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, thăm hỏi gia đình chính sách hay nỗ lực giải quyết hồ sơ tồn đọng… đã và đang góp phần xoa dịu bớt những vết thương mà chiến tranh để lại.

Tuy nhiên, trong sâu thẳm đời sống dân tộc, vẫn còn đó một nỗi đau chưa thể nguôi: còn nhiều liệt sĩ chưa được tìm thấy hài cốt; còn biết bao hài cốt đã được quy tập nhưng chưa xác định được danh tính; và còn rất nhiều gia đình sau mấy chục năm vẫn khắc khoải chưa biết người thân mình nằm ở đâu. Đối với thân nhân liệt sĩ, một thông tin chính xác về nơi hy sinh, nơi an nghỉ không đơn thuần chỉ là dữ liệu lịch sử. Đó là niềm an ủi cuối cùng, là sự hoàn tất một cuộc chờ đợi kéo dài dằng dặc qua nhiều thế hệ. Đó là điểm tựa tinh thần để người sống có thể thắp nén hương mà gọi đúng tên người đã khuất.

Vì thế, việc Việt Nam phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” là một chủ trương có ý nghĩa chính trị, nhân văn và thực tiễn đặc biệt sâu sắc. Chiến dịch hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, nhưng ý nghĩa của nó vượt ra ngoài một dịp kỷ niệm. Đây là một nỗ lực quy mô quốc gia nhằm giải quyết một phần rất quan trọng của hậu quả chiến tranh, là sự tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, là lời cam kết mạnh mẽ rằng đất nước không quên bất cứ người con nào đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì Hội nghị sơ kết nhiệm vụ 6 tháng đầu năm của Ban chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, ngày 25/6/2026. Ảnh: Thu Giang

Điểm đáng quý của chiến dịch là tinh thần hành động rất cụ thể. Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ vốn là công việc vô cùng khó khăn. Thời gian đã lùi xa. Địa hình thay đổi. Rừng núi, sông suối, chiến trường xưa nhiều nơi không còn nguyên trạng. Nhân chứng ngày càng ít, tuổi ngày càng cao. Hồ sơ, sơ đồ mộ chí, ký hiệu đơn vị, thông tin chiến đấu có nơi còn thiếu, còn tản mát. Bom mìn, vật nổ sau chiến tranh vẫn là hiểm nguy hiện hữu ở nhiều địa bàn. Trong điều kiện ấy, nếu chỉ dựa vào nỗ lực tự phát, rời rạc, công tác tìm kiếm sẽ rất chậm và khó đạt kết quả mong muốn.

Chiến dịch 500 ngày đêm có mục tiêu, thời hạn, lực lượng, có phân công, có công nghệ, cơ chế phối hợp và có trách nhiệm chính trị rõ ràng. Từ rà soát, chuẩn hóa dữ liệu; giải mã phiên hiệu, ký hiệu đơn vị; thu thập thông tin từ nhân dân; tổ chức hội thảo khoa học xác minh thông tin mộ liệt sĩ; rà phá bom mìn; quy tập trong nước và ở nước bạn; đến lấy mẫu, giám định ADN, xây dựng cơ sở dữ liệu gen thân nhân liệt sĩ – tất cả đều cho thấy một cách tiếp cận mới, bài bản hơn, hiện đại hơn.

Đặc biệt, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một bước tiến rất có ý nghĩa. Trước đây, nhiều trường hợp chỉ có thể dựa vào ký ức nhân chứng, hồ sơ chiến đấu, thông tin địa bàn. Nay, với công nghệ phát hiện hài cốt nằm sâu dưới lòng đất và công nghệ giám định ADN, cơ sở dữ liệu gen thân nhân, phần mềm quản lý mẫu và thông tin hài cốt, hy vọng “trả lại tên” cho các liệt sĩ trở nên rõ ràng hơn. Mỗi mẫu sinh phẩm của thân nhân, mỗi mẫu hài cốt được bảo quản, phân tích, đối chiếu là một nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa người đã khuất và gia đình.

Nghi thức an táng 27 hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắk Lắk (4/6/2026). Ảnh: Ngọc Minh/TTXVN

Kết quả bước đầu là hơn một nghìn hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập trong thời gian đầu triển khai; nhiều đội quy tập tiếp tục làm nhiệm vụ ở trong nước, tại Lào và Campuchia; nhiều địa bàn trọng điểm được rà phá bom mìn để phục vụ tìm kiếm; nhiều hội thảo xác minh thông tin mộ liệt sĩ tập thể được tổ chức; việc lấy mẫu, số hóa dữ liệu và phối hợp giám định ADN đang được thúc đẩy. Đằng sau những con số ấy là mồ hôi, công sức và cả sự dấn thân thầm lặng của rất nhiều lực lượng.

Cần đặc biệt ghi nhận sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương trong chiến dịch này. Bộ Quốc phòng giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức lực lượng tìm kiếm, quy tập, rà phá bom mìn, lấy mẫu hài cốt. Bộ Nội vụ tham mưu chính sách, cơ chế, bảo đảm sự đồng bộ trong công tác người có công. Bộ Công an tham gia quan trọng trong việc thu nhận ADN thân nhân liệt sĩ, kết nối dữ liệu phục vụ đối sánh. Các cơ quan khoa học, y tế, công nghệ, thông tin truyền thông, các địa phương đều có phần việc của mình. Chính sự phối hợp ấy làm nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong một nhiệm vụ vừa thiêng liêng vừa phức tạp.

Nhìn sâu hơn, Chiến dịch 500 ngày đêm không chỉ là việc của các cơ quan chức năng. Đây là việc của toàn dân. Bởi thông tin về liệt sĩ nhiều khi nằm trong ký ức của một cựu chiến binh, một người dân vùng chiến trường xưa, một già làng, trưởng bản, một gia đình từng cưu mang bộ đội, một cuốn sổ cũ, một bức thư cũ, một tấm ảnh cũ đã phai màu. Mỗi người dân nếu còn lưu giữ thông tin, kỷ vật, ký ức liên quan đến nơi hy sinh, nơi chôn cất liệt sĩ, đều có thể góp một phần vào hành trình đưa các anh trở về. Trong công việc này, một chi tiết nhỏ cũng có thể mở ra một hy vọng lớn.

Ngày 27 tháng 7 nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình không phải món quà tự nhiên có sẵn. Hòa bình được đánh đổi bằng xương máu, bằng tuổi trẻ và nước mắt của biết bao gia đình. Mỗi con đường, cây cầu, thành phố, cánh đồng, nhà máy hay trường học hôm nay đều mang bóng dáng của những người đã ngã xuống. Trong ý nghĩa thiêng liêng ấy, Chiến dịch 500 ngày đêm là một nghĩa cử cao đẹp của Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Chiến dịch ấy đã bù đắp phần nào nỗi đau mất mát của các gia đình liệt sĩ; khẳng định ý thức chính trị cao quý của một chế độ luôn ghi nhớ công lao người đã hy sinh và làm sáng lên truyền thống nhân nghĩa ngàn đời: người sống không quên người đã khuất, hôm nay không quên hôm qua, phát triển không quên cội nguồn. Và mỗi nén hương thắp lên trên phần mộ các anh hôm nay là một lời hứa sắt son của thế hệ trẻ: Tổ quốc không bao giờ quên.■

Xuân Sơn

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN