Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam tiếp tục nằm trong vòng bao vây, cấm vận và lật đổ của các thế lực phản động quốc tế. Các thế lực này tăng cường hoạt động hậu thuẫn tinh thần và vật chất cho nhiều lực lượng lưu vong bên ngoài xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan trở thành địa bàn trú chân để các nhóm này tiến hành những hoạt động chống phá. Hàng chục tổ chức và nhóm vũ trang bao gồm các nhóm tàn quân Sài Gòn, tàn quân Pol Pot, tàn quân Ngụy Lào, phỉ Vàng Pao… đã lập vô số căn cứ tại đây. Mục tiêu của toàn bộ các nhóm vũ trang này là xâm nhập về Việt Nam, móc nối với các nhóm tàn binh, lực lượng cài lại và những phần tử chống đối – bao gồm cả các nhóm phản động lợi dụng tôn giáo như Hoà Hảo, Cao Đài ở Tây Nam Bộ hay nhóm Fulro ở Tây Nguyên. Từ đó, chúng sẽ tiến hành chiến tranh phá hoại, chiếm cứ một số vùng để lập mật cứ, tiến tới lập chính phủ phản động. Với chiến lược “trong đánh ra, ngoài đánh vào”, các thế lực này dự tính lật đổ nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Có thể nói, đưa lực lượng lưu vong tập kết và huấn luyện ở Thái Lan về lại trong nước là một trong những hoạt động chống phá chính yếu. Suốt từ năm 1975 cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc vào năm 1991, các nhóm lưu vong này đã bí mật xâm nhập về Việt Nam từ các căn cứ trên đất Thái Lan. Theo công bố của ngành an ninh Việt Nam, quy mô nhất trong số đó phải kể đến tổ chức mang tên “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam” thành lập ngày 17/2/1976 tại Pháp do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu. Nhóm này công khai ý đồ lật đổ chính quyền nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, hoặc chí ít là chia cắt đất nước thành các vùng riêng biệt với hai chính quyền song song tồn tại, làm cơ sở cho chiến lược “bên ngoài can thiệp, bên trong nổi dậy”.
Tổ chức này chuyển toàn bộ lực lượng về lập căn cứ tại Thái Lan để chống phá Việt Nam, lập trung tâm chỉ huy ở Bangkok và căn cứ huấn luyện tại tỉnh Trat. Tháng 12/1980, chúng xây dựng thành công mật cứ “Tự Thắng”, tiếp đó là mật cứ “Quyết Tiến” ở biên giới Thái Lan sát với Campuchia. Đây là nơi diễn ra các hoạt động huấn luyện, đồng thời làm bàn đạp chuẩn bị cho những chuyến xâm nhập sâu vào trong nước.


Lê Quốc Túy sinh ngày 01/1/1934 ở Đồng Tháp. Túy từng phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng hoà và được đào tạo trở thành phi công tại Pháp. Sau khi giải ngũ sớm, Túy sang Pháp định cư vào năm 1958. Túy có quan hệ với Trần Văn Hữu – người từng giữ chức Thủ tướng dưới thời Bảo Đại. Dù cùng chịu cảnh lưu vong, Túy và Hữu vẫn dự tính thành lập “Chính phủ hòa hợp hòa giải dân tộc” vào năm 1972, đồng thời lôi kéo Mai Văn Hạnh tham gia. Mai Văn Hạnh sinh năm 1928 tại Hà Nội, cũng từng phục vụ trong lực lượng hải quân trong chế độ Việt Nam Cộng hoà, nhưng sau đó bỏ sang Pháp. Nhóm lưu vong này dù ở xa xứ, nhưng vẫn mang tham vọng chính trị lớn, muốn thành lập một “chính phủ dân sự” với hy vọng được Mỹ chấp nhận để thay thế Nguyễn Văn Thiệu.
Cục diện chiến tranh đầu năm 1975 hoàn toàn bất lợi cho Nguyễn Văn Thiệu. Trong bối cảnh vai trò của Mỹ suy giảm, Pháp tìm mọi cách để gia tăng ảnh hưởng trong những dàn xếp chính trị tại Việt Nam. Nhận thấy đây là cơ hội để tham chính, nhóm Trần Văn Hữu, Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy bắt tay vào hành động. Ngày 5/3/1975, Túy bay về Sài Gòn mang theo bức thư của Trần Văn Hữu gửi Nguyễn Văn Thiệu. Hữu và Túy muốn tận dụng các quy định của Hiệp định Paris để thuyết phục Thiệu thành lập một chính phủ liên hiệp, trong đó Thành phần thứ ba đóng vai trò chính yếu. Lê Quốc Túy có tham vọng giành ghế “Phó Tổng thống”, nhưng Thiệu đã thẳng thừng từ chối.
Thất bại trong âm mưu này, Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh quyết định xây dựng một kế hoạch riêng nhằm “giải phóng” miền Nam bằng con đường bạo loạn vũ trang để giành chính quyền. Đến năm 1980, Túy đổi tên tổ chức thành “Mặt trận thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam”, bộc lộ rõ ý đồ lật đổ chính quyền cách mạng trên cả nước. Nhóm này nhận viện trợ của các quốc gia lớn, bao gồm cả tài chính lẫn vũ khí nhằm vận chuyển trái phép về trong nước. Có thể nói, hoạt động chống phá của nhóm Túy – Hạnh có sự phối hợp và hậu thuẫn chặt chẽ từ cơ quan tình báo của các cường quốc nước ngoài.

Từ năm 1981, Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đã tổ chức 18 chuyến đưa biệt kích xâm nhập vào Việt Nam bằng đường biển. Mục tiêu của chúng là thiết lập các mật khu tại rừng U Minh, từ đó móc nối các thành phần phản động trong nước nhằm tiến hành bạo loạn vũ trang. Nhóm này dự tính thành lập một chính phủ bù nhìn làm chỗ dựa để đón các lực lượng lưu vong trở về, phối hợp gây bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng.
Trước âm mưu đó, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã triển khai kế hoạch đấu tranh mang bí số KHCM12. Do rơi vào trận địa phản gián bày sẵn của Lực lượng An ninh Việt Nam, Mai Văn Hạnh cùng toàn bộ lực lượng xâm nhập đã bị bắt gọn. Chuyên án bí mật được lập ra nhằm triệt tiêu âm mưu của Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đã trở thành một trong những chuyên án bí mật có quy mô và mức độ thành công lớn nhất trong lịch sử ngành An ninh. Trong suốt 4 năm, Lực lượng An ninh đã đón bắt thành công 18 chuyến xâm nhập của nhóm Túy – Hạnh, bắt giữ 146 biệt kích, tiêu diệt 22 tên, thu hơn 143 tấn vũ khí, 14 tấn tiền Việt Nam giả, hàng chục ngàn đô-la Mỹ và 12 bộ điện đài. Toàn bộ âm mưu xây dựng mật cứ và phá hoại của chúng đã hoàn toàn phá sản trước sự sửng sốt của chúng và các thế lực đứng sau.
Ông Mười Lắm – người giữ “chìa khóa” mở đầu ván cờ phản gián CM12
Trong chiến dịch phản gián CM12 lịch sử này, ông Mười Lắm là một nhân vật đặc biệt. Ông là người góp công ngay từ thời khắc mở đầu, trực tiếp cảm hóa các đầu mối quan trọng, lựa chọn bãi đáp, xây dựng căn cứ giả và nhiều lần trực tiếp dẫn dụ các toán biệt kích lọt vào trận địa phục kích của ta. Theo lời kể của ông, “CM” là viết tắt của địa danh Cà Mau, còn con số “12” gắn với ngày 12/5/1981 – mốc thời gian toán biệt kích đầu tiên xuất phát từ cảng Rayong (Thái Lan) xâm nhập vào nước ta.
Ông Mười Lắm tên thật là Hồ Việt Lắm. Ông là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ. Năm 1981, trước khi Kế hoạch CM12 mở ra, ông đang giữ chức Phó Công an huyện Trần Văn Thời và được cử đi học lớp bổ túc sĩ quan của Bộ Công an. Trong khóa học này, khi nghe tổng kết chuyên án chống biệt kích, ông đã rút ra ba bài học cốt lõi, quan trọng trong đấu tranh chống biệt kích xâm nhập: thứ nhất, phải bắt bằng được toán trưởng và điện báo viên; thứ hai, thu giữ nguyên vẹn vũ khí và điện đài; thứ ba, tuyệt đối giữ bí mật và báo cáo cấp trên một cách nhanh nhất.
Ngay khi ông Hồ Việt Lắm tốt nghiệp khoá học này, ông nhận được tin một toán biệt kích xâm nhập vào Bãi Ghe (huyện Trần Văn Thời) đang bị ta truy bắt. Một số tên đã chôn dấu vũ khí ngoài biển, số còn lại lẩn trốn vào nhà của Phạm Thanh D.

Sáng ngày 15/5/1981, ông Hồ Việt Lắm được Chủ tịch huyện và Trưởng Công an huyện thông báo về việc Phạm Thanh D ra đầu thú, khai báo có một toán biệt kích vừa đổ bộ bằng đường biển vào khu vực Bãi Ghe. Ông Mười Lắm thuật lại: trước đó, khi biết Phạm Thanh D đi vượt biên, ông đã nhiều lần lui tới nhà D, dặn dò gia đình nếu D có liên lạc về thì nhắn: “đừng làm gì phản nước hại dân, khi xâm nhập về nước nên ra đầu thú”. Ngay trong ngày, lực lượng Công an bắt giữ thêm Trịnh Văn K và khống chế Nguyễn Văn Q. Theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), ông Mười Lắm ngay lập tức sử dụng D và K phối hợp cùng các lực lượng Công an, Huyện đội và dân quân ra bờ biển đón bắt toán biệt kích còn lại. Tại Bãi Ghe, ông phát hiện thêm hai biệt kích đã vào xin cơm trong xã. Qua sự nhận diện của Phạm Thanh D, lực lượng chức năng đã bắt giữ được hai đối tượng này trong đó có Doãn Trung D – một người quen biết với ông từ trước. Sau khi được vận động, Doãn Trung D đồng ý hợp tác và dẫn đường để truy bắt toàn bộ toán biệt kích còn đang ẩn náu. Kết quả, ta đã bắt giữ 13 tên biệt kích, chỉ có toán trưởng Nguyễn Văn Thạnh bị bắn chết khi chống trả. Đặc biệt, lực lượng Công an đã bắt sống điện báo viên Bùi Xuân H và thu giữ nguyên vẹn hệ thống điện đài cùng khoảng 3,5 tấn vũ khí, đạn dược.
Theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ, ông Mười Lắm đã sử dụng thành công nhóm biệt kích đầu tiên này một cách ngoạn mục. Khi toán biệt kích liên lạc về trung tâm báo tin đã an toàn, chúng giới thiệu ông với Mai Văn Hạnh và nhóm cầm đầu ở Thái Lan dưới bí danh “chú Mười” – một cơ sở nội địa đáng tin cậy như người nhà. Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ, ông tiếp quản các đối tượng, giáo dục và cảm hóa điện báo viên H, từ đó thiết lập lại đường dây liên lạc thông suốt với trung tâm chỉ huy của địch. Thắng lợi bước đầu này đã tạo tiền đề cho việc giăng bẫy thành công toán biệt kích tiếp theo vào ngày 9/9/1981. Toàn bộ lực lượng xâm nhập mới này đều bị ta bắt gọn, chính thức mở ra Kế hoạch phản gián CM12 lịch sử.
Trong chuyên án CM12, ông Hồ Việt Lắm mang bí danh NK02. Từ năm 1981 đến 1984, địch tổ chức 18 chuyến xâm nhập bằng đường biển, dưới sự chỉ đạo của Ban chuyên án, ông đã trực tiếp 17 lần ra bờ biển để đón địch. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, ông đã dẫn dụ thành công các toán biệt kích lọt vào trận địa mai phục để lực lượng ta bắt gọn.
Ông kể: “Theo sự điều động của đồng chí Nguyễn Phước Tân (Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh), tôi vẫn công khai giữ chức Phó trưởng Công an huyện. Chỉ khi Ban chuyên án triển khai hoạt động, tôi mới tham gia với tư cách là lực lượng bí mật của địch ở nội địa. Việc xây dựng lực lượng vây bắt do các đồng chí lãnh đạo trực tiếp thực hiện; còn tôi, cứ đến ngày tháng địch xâm nhập, theo yêu cầu của Ban chuyên án, sẽ ra bờ biển để đón bắt. Đối tượng cảm hóa Phạm Thanh D có nhiệm vụ báo cáo với ban lãnh đạo số lượng biệt kích xâm nhập mỗi lần. Từ đó, lãnh đạo lên kế hoạch rất chi tiết về địa điểm đón địch và lộ trình di chuyển, còn tôi đóng vai trò là người thực hiện. Nhờ là người địa phương am hiểu địa hình, khi biệt kích được đưa lên bờ biển, tôi cùng D đón và dẫn đường cho chúng đi sâu vào trận địa mai phục để lực lượng ta vây bắt. Sau này, Ban chuyên án đã dùng hai con tàu giả danh tàu đánh cá để đón biệt kích từ tàu địch đang neo đậu ngoài khơi. Một tàu để chở toàn bộ vũ khí, tàu còn lại đón số biệt kích di chuyển qua cửa sông Ông Đốc. Đến địa điểm định sẵn, tàu sẽ gặp trạm kiểm soát do Công an bố trí. Tại đây, lực lượng chức năng yêu cầu tàu dừng lại, gọi từng người lên bờ để thẩm vấn sơ bộ, sau đó còng tay và áp giải thẳng về trại giam”.
Một trong những trận đánh tiêu biểu là cuộc đón toán “Đại đội 124” gồm 50 tên. Dưới sự chỉ đạo của Ban chuyên án, ông Mười Lắm đã dẫn dắt “đại đội” này qua địa hình sình lầy, hiểm trở khiến kẻ địch kiệt sức, không thể đến đúng vị trí theo kế hoạch. Lúc này, ông chủ động tách ra khỏi nhóm biệt kích, để chúng nằm ngủ ở bìa rừng, rồi lập tức về sở chỉ huy báo cáo để điều lực lượng bao vây. Kết quả, toàn bộ toán biệt kích “Đại đội 124” đã bị tiêu diệt và bắt gọn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của Chuyên án CM12.

Ông Mười Lắm vui vẻ hồi tưởng: “Đó là lần gian nan nhất bởi toán biệt kích này có quân số đông và mang theo vũ khí. May nhờ mưu trí của anh Tám Thậm đã chủ động nhúng ướt ba-lô của chúng trước khi vào bờ, đồng thời luộc đạn trước khi giao cho chúng. Nhờ vây, đạn bị ẩm khi bắn không thể nổ được, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho chúng tôi. Những lần khác, khi biệt kích xâm nhập không mang súng đạn, quân ta chỉ cần hô khẩu lệnh là lập tức tràn ra bắt gọn. Có lần, chính tôi khi đang dẫn biệt kích cũng bị lực lượng của ta bắt nhầm, bị đè đầu uống nước mặn muốn chết”.
Bên cạnh nhiệm vụ đón bắt, ông Mười Lắm còn tham gia xây dựng hệ thống căn cứ và kho vũ khí giả để đánh lừa các cấp chỉ huy của địch. Ông cũng phối hợp chặt chẽ để bảo đảm an ninh khu vực bến bãi, giúp Chuyên án CM12 diễn ra xuyên suốt hơn 1.000 ngày tại vùng biển Trần Văn Thời và Phú Tân mà không xảy ra bất kỳ va chạm nào giữa lực lượng đánh án với quân dân địa phương.
Khi kể về những dấu ấn cá nhân, Thiếu tướng Hồ Việt Lắm khiêm tốn chia sẻ rằng ông chỉ thực hiện đúng theo phân công của tổ chức với tinh thần hăng hái của tuổi trẻ. “Bài học lớn nhất có thể đúc rút ra là tôi đã mạnh dạn sử dụng ngay các biệt kích bị bắt giữ, tiêu biểu là Phạm Thanh D ngay từ chuyến xâm nhập đầu tiên. Sau đó, Bộ Công an tiếp tục sử dụng những nhân vật này làm “con mồi” trong chuyên án, đặc biệt là D. Sự táo bạo đó đóng vai trò cốt lõi, tạo bước ngoặt mở đầu cho thắng lợi của Kế hoạch CM12”.
Ông Tám Thậm – “quân cờ then chốt” trong Kế hoạch phản gián CM12
Trong kế hoạch phản giản lịch sử CM12, Đại tá Trần Phương Thế, tên thường gọi là Tám Thậm, là một quân cờ then chốt.
Vào năm 1981, khi triển khai Kế hoạch CM12, lãnh đạo Bộ Công an quyết định chọn những cán bộ cốt cán của Lực lượng An ninh các tỉnh miền Tây Nam Bộ để thâm nhập và đánh địch từ bên trong tổ chức của chúng. Đồng chí Trần Phương Thế, lúc đó là Đại úy, Trưởng phòng Bảo vệ chính trị Công an tỉnh Minh Hải, được giao nhiệm vụ thâm nhập vào tổ chức phản động này với tên gọi Hai Tài, Hai Râu, mang bí danh NKA1. Vì là người địa phương, ông thông thuộc sâu sắc bản đồ địa lý, địa hình, địa vật cũng như lối sống, phong tục sinh hoạt của người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Quan trọng hơn, ông sở hữu bề dày công tác, tư duy sắc sảo, sự linh hoạt cùng 15 năm kinh nghiệm làm công tác thông tin, điện đài thời kháng chiến chống Mỹ và nhiều năm giữ vai trò chỉ huy bộ phận trinh sát kỹ thuật khu Tây Nam bộ.
Thực hiện Kế hoạch CM12, ông đã mưu trí, khôn khéo sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, tương kế tựu kế, dùng địch đánh địch, điều khiển trung tâm của địch hoạt động theo ý đồ của ta trong suốt bốn năm (1981 – 1984). Ngay từ đầu Chuyên án, khi bắt được 4 tên biệt kích đầu tiên, ông Tám Thậm đã được Ban chuyên án bố trí trực tiếp ở chung với nhóm biệt kích trong trại giam, ông đã thuyết phục cảm hoá từng tên, trong đó có điện đài Bùi Xuân H. Nhờ vậy, chúng ta đã lên máy điện đài đã bắt được của biệt kích để liên lạc trực tiếp với trung tâm địch ở Bangkok, mở màn chiến dịch “đánh lừa” địch. Ông Tám Thậm kể: “Sử dụng điện đài cũng phải có chiến thuật. Liên lạc theo ngày giờ quy định, nhưng bữa lên bữa không lên, không cho đều đặn để địch thấy cái khó khăn, càng khó càng tin. Lúc lên điện đài liên lạc với trung tâm biệt kích, ông cũng báo cáo đầy đủ cho Túy, Hạnh công việc chuẩn bị chọn cứ điểm, kho cất vũ khí ở nhiều nơi như mũi Cà Mau, Bến Tre, Long An, Trà Vinh, thuyết phục Túy – Hạnh rằng rừng U Minh là điểm thuận lợi nhất, rừng tràm tận ven biển, không có khu dân cư, thuỷ triều không cao nên dễ di chuyển. Đây là cánh rừng lớn nên cũng dễ xây dựng căn cứ lớn để chứa vũ khí. Báo cáo cho địch kèm lý giải và bản đồ chi tiết khiến lòng tin của chúng vào mình ngày càng cao”.

Trong khoảng 4 tháng đầu tiên chuẩn bị cho việc đón bắt, ông Tám Thậm được Ban chuyên án giao trực tiếp liên lạc với nhóm Túy – Hạnh với danh xưng người thân của Phạm Thanh D (đối tượng đầu thú). Lúc ấy, ông đã không còn là một sĩ quan Công an, mà là ngư dân đi biển, để râu tóc dài, được Túy, Hạnh gọi là Hai Râu. Sau bốn tháng khảo sát và “vờ” báo cáo với nhóm đầu não rằng mọi việc đã sẵn sàng để tiếp nhận vũ khí và đón biệt kích, đêm ngày 9 rạng ngày 10/9/1981, ông Tám Thậm cùng các đồng đội trong Ban chuyên án đã ra Bãi Ghe đón bắt thành công 8 biệt kích. Khi đầu xuôi, đuôi lọt, nhóm Túy – Hạnh cho ông biết: đã báo cáo “quan thầy” và nhận được ngay nhiều vũ khí, quân dụng chuyển từ tàn quân Pol Pot ở căn cứ Thái Lan. Ông Tám Thậm kể: “Chúng đốc thúc mình rất nhiều, cứ 15 ngày lại có một chuyến, chậm thì 2,3 tháng, Người Thái cũng không muốn tồn lưu vũ khí trong lãnh thổ quá lâu nên hối thúc chuyển đi, nhiều thời điểm đưa vào nội địa ta rất ồ ạt. Kèm theo vũ khí là tiền giả, Túy-Hạnh cho biết chúng sang một đảo ở Biển Đông nhận tiền Việt Nam giả với mục tiêu đưa vào để phá kinh tế Việt Nam, chúng chuyển vào tới mười mấy tấn loại tiền này”.
Tất cả các nguồn tin trên đều được Ban chuyên án CM12 phân tích, thấy phù hợp với các tin tức lãnh đạo Bộ đã nắm được và quyết định giao cho đồng chí Tám Thậm tiếp tục đi sâu vào vụ án. Sau khi thấy tin tưởng tuyệt đối vào ông Hai Râu, Lê Quốc Túy đã thông tin cho Hai Râu, cử Mai Văn Hạnh vào nội địa trực tiếp để gặp ông Hai và một số nhân vật phản động cộm cán như Huỳnh Vĩnh S, Lê Quốc Q, Hồ Tấn K, Lê Chung T để bàn sự vụ. Sau khi được Ban chuyên án phê duyệt, ông Tám Thậm đã giao cho Phạm Thanh D liên lạc với từng người, trong đó Lê Quốc Q và Huỳnh Vĩnh S nhận lời gặp mặt Hạnh.
Tháng 10 năm 1981, Mai Văn Hạnh đi cùng một nhóm biệt kích và 6,7 tấn vũ khí xâm nhập rừng U Minh. Ông Tám Thậm kể về cuộc đón Mai Văn Hạnh đầu tiên này: “Tôi dùng xuồng nhỏ ra đón, chào hỏi chú Năm (tên gọi Mai Văn Hạnh) rồi mời rước chú Năm đi trước. Số biệt kích đi cùng được tách ra dẫn vào điểm phục kích của ta để bắt gọn. Từ U Minh tôi cho Hạnh đi thẳng về Bạc Liêu, trên đường bố trí 1,2 trạm gác giả vờ để cố tạo không khí căng thẳng trên đường đi, để Hạnh thấy hoạt động ở trong nước không dễ dàng gì. Tôi đưa Hạnh về tới tận nhà ông Sáu T ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Vĩnh Lợi, là địa điểm được ta chuẩn bị từ trước để Hạnh ở khi vào nội địa. Hạnh rất vừa lòng với nơi này. Tại đây, Mai Văn Hạnh được bố trí tiếp xúc với Lê Quốc Q và Huỳnh Vĩnh S. Khi nhóm này bàn bạc với nhau, Huỳnh Vĩnh S nói “Cộng sản không còn sức lực nữa, lo ăn còn không lo nổi”. Lê Quốc Q bảo “có mấy anh giúp thì tôi thắng nhanh, không thì tôi cũng thắng, cứ đưa tiền tôi đánh cho mấy anh coi”. Mai Văn Hạnh nói tình hình mặt trận và mở rộng quan hệ quốc tế rất tốt, càng tạo lòng tin cho những tên phản động rằng chiến thắng đang tới gần. Sau tám ngày đón tiếp Hạnh, ông Tám Thậm thực hiện yêu cầu của Ban chuyên án, đưa Mai Văn Hạnh ra tàu trở về Thái Lan an toàn.

Thấy Mai Văn Hạnh xâm nhập trót lọt, Lê Quốc Túy sợ lép vế cũng muốn vào Việt Nam. Túy quyết định cùng với Hạnh xâm nhập Việt Nam cùng một chuyến. Theo kế hoạch. Mai Văn Hạnh đi theo đường biển quốc tế, liên lạc qua điện đài báo cho Hai Râu biết Hạnh sẽ vào Việt Nam, ông Tám Thậm đã báo ngay cho Ban chuyên án để bố trí kế hoạch trinh sát. Lê Quốc Túy đi từ Thái Lan vào bằng tàu thuỷ. Túy – Hạnh gặp nhau trên biển và cùng xâm nhập vào Minh Hải. Địa điểm là Kênh Mới thuộc huyện Trần Văn Thời. Ông Hai Râu đưa tàu ra tận nơi đón “chú Tư”, “chú Năm”. Ông kể đêm đó sóng biển vỗ ầm ầm, ông đưa Túy, Hạnh theo con đường bãi lầy khiến Lê Quốc Túy rất mệt, ông Tám Thậm đã phải cõng Túy vì y không đi nổi. Khi đến điểm hẹn, ông bố trí xe máy đưa hai người về Vĩnh Mỹ. Ông tiếp tục hồi tưởng: “Tôi đi trước để cảnh giới đường, nhân viên điện đài H chở Hạnh, còn D chở Túy đi tới kênh xá Bạc Liêu thì xuống đò dọc tới nhà ông Năm H, do lực lượng ta bố trí. Ông H là chủ nhà đã tiếp xúc với Túy, y gạ ông làm ăn nhưng ông không chấp nhận. Tại đây, ta cũng bố trí cho Anh Đào là người tình của Lê Quốc Túy xuống gặp theo yêu cầu của Túy. Đang ăn cơm, Anh Đào nói “ở Sài Gòn tôi nghe nói có biệt kích vô và quân đội tổ chức đánh bắt hết, chết một số”. Lê Quốc Túy đang cầm đũa buông xuống, nhìn tôi trách gay gắt: “sao anh Hai không nói cho tôi biết?” Tôi phải nói với Túy, chuyện đó tôi có gửi điện báo cáo, rằng có nhóm trốn nước ngoài có vũ khí, đội tuần tra của Biên phòng ngoài biển thấy tàu lớn kêu họ lại mà không dừng nên nổ súng, dân vượt biển có súng bắn lại. Hai bên đánh nhau, số vượt biên bị bắt giữ. Tôi cũng nói với Túy, sau vụ đó, tôi kêu cho chôn máy điện đài và mấy anh quân mình tôi cho bận quần ngắn, áo ngắn lội trong rừng ở ngoài đó, vừa để an toàn, vừa nghe ngóng thông tin. Cả tuần lễ tụi tôi ăn ngủ không yên, tôi cũng không ở nhà mà phải đi chỗ khác. Khi nghe được tin cụ thể chỉ là truy đuổi bọn vượt biên , tôi mới dám điện cho chú Năm. Lúc đó Hạnh cũng nói anh Hai Râu có báo cáo nhưng anh đang ở Pháp nên chưa báo cho anh. Nói vậy Túy mới ổn định lại. Nhưng thấy ở nhà Năm H không được an toàn, tôi báo cáo cấp trên cho Túy – Hạnh ra ở nhà Sáu T cách đó 5km. Nơi này đã bố trí cho Hạnh ở lần xâm nhập trước. Sáng hôm sau, lại bố trí cho Túy – Hạnh gặp Huỳnh Vĩnh S, Lê Quốc Q. Túy khi gặp mặt những người này, nói ảnh hưởng của mặt trận ngày càng lớn nên Bí thư thứ nhất sứ quán Mỹ ở Thái Lan đã nhiều lần xin gặp. Túy cũng đưa cho Lê Quốc Q số tiền Việt Nam giả mà y mang theo.
Lê Quốc Túy muốn được gặp một số biệt kích nữa để kiểm tra nhưng ông Hai rất khéo léo cho Túy biết số biệt kích này ở căn cứ xa, việc đi lại rất khó khăn. Túy hiểu và chấp nhận ý kiến này. Ở nhà ông Sáu T hai ba ngày, ông Hai Râu đưa Túy – Hạnh ra tàu đậu ở ngoài biển ngủ một đêm rồi trở về Thái Lan ổn thoả. Qua cuộc gặp này ta nắm được rõ âm mưu của bọn phản động quốc tế, hối thúc Túy – Hạnh tiến hành bạo loạn, chiếm thành phố Cần Thơ tiến tới lật đổ chính quyền. Đó cũng là một trong những tình thế “cân não”, mà ông Tám Thậm kể lại với chúng tôi. Hoạt động trong lòng địch, nguy hiểm chực chờ, nhưng nhờ có bản lĩnh, khôn khéo, ông vẫn chiếm trọn sự tin tưởng, và được Túy “thăng đến cấp Đại tá” sau chuyến đi của Túy – Hạnh.
Từ đó tới tháng 9/1984, nhóm Túy – Hạnh tiếp tục huấn luyện lực lượng quyết liệt, đưa nhiều vũ khí và con người xâm nhập về nước, để hối thúc gây bạo loạn. Theo chỉ đạo của Ban chuyên án, ông Tám Thậm tiếp tục “báo cáo” với Lê Quốc Túy rằng căn cứ mở rộng ổn định, đã mua chuộc được cán bộ lâm nghiệp để kho vũ khí an toàn, nhưng hiện chưa đủ điều kiện để tiến hành các hoạt động bạo loạn. Nhưng bọn Túy không dừng ở đó, chúng thông báo Mai Văn Hạnh sẽ vào Việt Nam.
Ngày 9/9/1984, Mai Văn Hạnh xâm nhập lần nữa để tiếp xúc với nhóm phản động Huỳnh Vĩnh S và ra lệnh bạo loạn. Hai Râu bố trí đón Mai Văn Hạnh theo đúng kế hoạch của Ban chuyên án. Ông Tám Thậm kể lại: “Mai Văn Hạnh đã bảo tôi, anh Hai là Tư lệnh phải ra quân chiếm được Cần Thơ, sẽ được lên Thiếu tướng. Chỉ thị phải cấp tốc vận chuyển vũ khí, chất nổ ra ngoài để hoạt động, cho nổ ở Đại sứ quán Pháp thì mới gây được tiếng vang về chính trị nhanh, tiếp tục cho nổ ở các cơ quan nhà nước trọng yếu. Hạnh cho rằng bộ đội chủ lực đang đóng ở biên giới phía Bắc nên nổi dậy lúc này là thắng”. Ngày 11/9, sau khi nắm rõ ý đồ của địch, Hai Râu bố trí Mai Văn Hạnh trở về Cà Mau, trên đường đi, Ban chuyên án quyết định bắt giữ Hạnh.

Theo lời kể của ông Tám Thậm, trong lần xâm nhập cuối cùng này, Hạnh đã mang theo lời kêu gọi của Lê Quốc Túy, yêu cầu chiếm Cần Thơ làm thủ phủ. Khi chiếm được Cần Thơ sẽ lên đài kêu gọi các nước ủng hộ, và một số nước lớn sẵn sàng công nhận nếu cuộc nổi loạn thành công. Qua những lời kể của ông Tám Thậm – một nhân chứng sống, mới thấy tính chất đặc biệt nguy hiểm của vụ án này. Kế hoạch CM12 giành thắng lợi trọn vẹn là một chiến công lừng lẫy của lực lượng Công an Việt Nam. Tròn ba năm từ ngày 9/9/1981 đến 9/9/1984, Chuyên án CM12 kết thúc, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Phạm Hùng và các nhà lãnh đạo An ninh tài năng như Cao Đăng Chiếm, Bùi Thiện Ngộ, Nguyễn Phước Tân và nhiều nhà chỉ huy An ninh tài ba khác, trong đó đồng chí Tám Thậm là người trực tiếp đối mặt với địch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đồng chí Trần Phương Thế tức Tám Thậm được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1985. Đây là vinh dự hoàn toàn xứng đáng bởi Tám Thậm là một mắt xích sống còn trong toàn bộ kế hoạch đánh lừa, che mắt và dẫn dắt đối phương vào thế trận của ta mà không hề hay biết kéo dài 4 năm. Vai trò của ông nằm ở sự âm thầm, ở khả năng hóa thân, chịu đựng, xử lý tình huống thông minh và duy trì lòng tin của đối phương trong một môi trường mà chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng.


Kế hoạch CM12 là một trong những trận đánh “tốt nhất, hay nhất, lớn nhất và bí mật nhất” kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Vai trò của những con người như Tám Thậm, Mười Lắm và nhiều chiến sĩ an ninh khác không nêu tên trong bài viết này là những nhân chứng sáng ngời, tiêu biểu nhất trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia. Các chiến sĩ an ninh là biểu tượng của một phẩm chất rất đặc biệt: họ chiến đấu thầm lặng. Họ phải chấp nhận cô đơn, chấp nhận hiểu lầm, chấp nhận nguy hiểm, để giữ nguyên vẹn một mục tiêu lớn hơn: bảo vệ an ninh quốc gia. Đó thực sự là những người anh hùng thầm lặng, chịu đựng những mất mát riêng tư nhất để góp phần làm nên một chiến thắng không tiếng súng, nhưng vang vọng lâu dài trong lịch sử bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Nhìn lại từ chiều sâu lịch sử, Kế hoạch CM12 không chỉ là một chuyên án phản gián lớn, nó là cuộc đọ sức của Lực lượng An ninh Việt Nam với các thế lực phản động dưới sự hỗ trợ của cơ quan tình báo các cường quốc lớn, cuối cùng họ phải chịu thất bại thảm hại.
Từ Kế hoạch CM12, chúng ta càng có quyền tự hào về Lực lượng An ninh Việt Nam. Họ luôn là lá chắn vững chắc bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và Nhân dân. Từ Kế hoạch CM12 nhắc nhở rằng độc lập, thống nhất và bình yên của đất nước không tự nhiên mà có. Đằng sau sự bình yên hôm nay là sự chiến đấu hi sinh thầm lặng của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ Lực lượng An ninh, những người chỉ biết còn Đảng còn mình, lấy cuộc sống bình yên và hạnh phúc của Nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình.■
Phương Đông