Trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1972, quân đội Mỹ đã tiến hành một chiến dịch tuyệt mật tại Đông Dương (được biết đến với tên gọi lịch sử là Chiến dịch Popeye). Đây được xem là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới, thời tiết được biến thành một loại vũ khí phục vụ chiến tranh. Bằng cách thả hàng chục nghìn ống hóa chất kích thích mưa xuống Đông Dương, Lầu Năm Góc tham vọng kéo dài mùa mưa nhằm gây ra ngập lụt, qua đó cản trở và làm chậm quá trình di chuyển binh lính cùng hàng hóa tiếp tế của miền Bắc Việt Nam qua mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh. Mặc dù bị giới chức Mỹ che giấu gắt gao trong nhiều năm, chiến dịch can thiệp thời tiết này cuối cùng cũng bị báo chí phanh phui, buộc các quan chức quốc phòng phải chính thức thừa nhận sự thật trước Quốc hội. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu bản dịch bài viết “U.S. Admits Rain‐Making From ‘67 to ‘72 in Indochina” (Mỹ thừa nhận tạo mưa ở Đông Dương giai đoạn 1967-1972) của Seymour M. Hersh trên báo The New York Times ngày 18/5/1974, nhằm làm sáng tỏ chiến dịch quân sự bí mật chưa từng có tiền lệ này.
*
Bộ Quốc phòng Mỹ đã thừa nhận trước Quốc hội rằng Không quân và Hải quân Mỹ từng tham gia các hoạt động tạo mưa quy mô lớn ở Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 1967 đến 1972. Mục đích của hoạt động này là làm chậm quá trình di chuyển binh lính và hàng tiếp tế của miền Bắc Việt Nam qua mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh.
Những lời khai được công bố hôm nay cho thấy trong nội bộ Lầu Năm Góc đã có nhiều ý kiến bất đồng về giá trị quân sự của chương trình tạo mưa tuyệt mật này.
Lời khai cũng tiết lộ rằng cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird đã xin lỗi Quốc hội vì hai năm trước ông từng phủ nhận hoàn toàn các hoạt động tạo mưa đã diễn ra. Ông Laird nói rằng mình không biết về chiến dịch này, khẳng định ông “chưa bao giờ phê chuẩn” nó và từng tin rằng hoạt động này không được tiến hành dưới thời cựu Tổng thống Lyndon B. Johnson.
Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh
Theo các quan chức quốc phòng Mỹ, chương trình gieo mây này đã làm lượng mưa tại một số khu vực tăng tới 30%. Đây được coi là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự có việc sử dụng thời tiết như một loại vũ khí trong chiến tranh.

Việc Lầu Năm Góc thừa nhận chiến dịch này được đưa ra trong một phiên điều trần tuyệt mật vào ngày 20 tháng 3 trước Tiểu ban về Đại dương và Môi trường quốc tế thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ.
Tại phiên điều trần, ông Dennis J. Doolin, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, cùng Trung tá Ed Soyster thuộc Lục quân Mỹ, đại diện cho Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, cho biết đã có 2.602 phi vụ gieo mây được thực hiện từ một căn cứ không quân ở Thái Lan. Các máy bay này đã thả tổng cộng 47.409 ống chứa bạc iodua hoặc chì iodua – những chất dùng để kích thích mưa – xuống các khu vực ở miền Bắc Việt Nam, miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, bắt đầu từ ngày 20/3/1967.
Hoạt động tạo mưa đạt đỉnh vào năm 1971, theo các số liệu của Lầu Năm Góc được cung cấp cho Ủy ban, với hơn 11.000 ống hóa chất được thả xuống. Các nguồn tin đáng tin cậy nói với The New York Times rằng, vào thời điểm đó, các hoạt động này được Henry A. Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống, kiểm soát rất chặt chẽ.
“Một việc như thế này chẳng khác nào một quả bom, và ông Henry đã hạn chế thông tin về nó, chỉ cho những người thực sự cần biết”, một cựu quan chức chính phủ cho biết.
Trong lời khai của mình, ông Doolin bảo vệ chương trình này khi nói rằng: “Nếu một đối thủ muốn ngăn tôi đi từ điểm A đến điểm B, tôi thà để họ chặn tôi bằng một trận mưa còn hơn là bằng một loạt bom đạn”. “Thành thật mà nói,” ông nói thêm, “trong bối cảnh đó, tôi xem việc này là khá nhân đạo, nếu nó thực sự có hiệu quả”.
Lời khai cho thấy hoạt động gieo mây đã bị dừng lại vào ngày 05/7/1972, chỉ hai ngày sau khi The Times đăng một bài viết dài về chiến dịch được xếp vào loại tuyệt mật này. Vào thời điểm đó, các quan chức quốc phòng Mỹ phủ nhận việc từng có bất kỳ nỗ lực tạo mưa nào được tiến hành trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.
Trong một bức thư được Tiểu ban công bố vào tháng 1/1974, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Laird đã xin lỗi vì lời phủ nhận hoàn toàn của ông vào năm 1972. “Tôi vừa được thông báo,” ông Laird viết, “rằng những hoạt động như vậy đã được tiến hành trên bầu trời miền Bắc Việt Nam vào năm 1967 và một lần nữa vào năm 1968”.
Trong lời khai của mình, Đại tá Soyster, đại diện Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói với Ủy ban rằng Lầu Năm Góc đã cho phép tiến hành gieo mây trên bầu trời miền Bắc Việt Nam từ ngày 11/7/1967. Theo ông, chương trình này đã bị chấm dứt vào ngày 01/11/1968, khi Tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom.
Tranh cãi về hiệu quả của chương trình
Đại tá Soyster ước tính chi phí hằng năm của các hoạt động gieo mây là khoảng 3,6 triệu USD. Ông cho biết chương trình này bắt đầu bằng một loạt thử nghiệm vào năm 1966 tại vùng cán xoong của Lào([1]). Các thử nghiệm đó được Văn phòng Nghiên cứu và Kỹ thuật của Lầu Năm Góc cho phép.
Sau đó, theo Đại tá Soyster, Đô đốc Ulysses S. Grant Sharp Jr., khi ấy là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, kết luận rằng việc tạo mưa “có thể được sử dụng như một vũ khí chiến thuật có giá trị”.
Tuy nhiên, giữa ông Doolin và Đại tá Soyster đã có một số bất đồng về hiệu quả của chương trình. Đây là chương trình được giữ bí mật ở mức rất cao trong toàn bộ Chính phủ Mỹ, bởi như ông Doolin thừa nhận, nó là một vấn đề rất nhạy cảm.
Đại tá Soyster nói với Ủy ban rằng Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ ước tính “lượng mưa tại một số khu vực giới hạn đã tăng tới 30% so với mức dự báo trong điều kiện thời tiết khi đó. Các dữ liệu ghi nhận từ thiết bị cảm biến và những thông tin khác sau khi gieo mây cho thấy đối phương gặp khó khăn do mưa lớn”.
Để củng cố nhận định này, ông đưa ra các biểu đồ cho thấy hoạt động di chuyển binh lính và hàng tiếp tế của đối phương ở miền đông Lào đã giảm đáng kể trong hai tuần của tháng 6/1971. Theo vị Đại tá này, một tuần trong số đó có bão đi qua khu vực này; còn trong tuần kia thì “chúng tôi hoạt động gieo mây mạnh nhất”.

Khi được hỏi về đánh giá của mình, ông Doolin cho biết ông không hoàn toàn chia sẻ sự hào hứng của giới quân sự đối với chương trình tạo mưa này. “Khi nhìn vào lượng mưa vốn đã có ở những khu vực đó,” ông nói, “rồi so với lượng mưa có thể được bổ sung nhờ các hoạt động gieo mây, theo tôi, chuyện này giống như một khu vực đã có 530mm mưa và chúng ta chỉ thêm vào khoảng 50mm”.
“Nếu tôi là người ở dưới mặt đất,” vị quan chức Lầu Năm Góc nói thêm, “tôi không nghĩ mình có thể nhận ra sự khác biệt giữa 530mm và 580mm”. Đại tá Soyster vẫn khẳng định lượng mưa đã tăng lên, nhưng cũng thừa nhận rằng Lầu Năm Góc không thể xác định chính xác mức tăng là bao nhiêu.
Các nhà khoa học dân sự tỏ ra hoài nghi
Ông Doolin, người giữ chức quan chức Lầu Năm Góc từ năm 1969 và trước đó từng làm việc tại Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ, nói với Ủy ban rằng dù giữ vị trí cao, ông cũng không biết về chương trình tạo mưa bí mật này cho đến khi nhà báo Jack Anderson viết về nó vào tháng 3/1971.
“Tôi đã hỏi về sự việc vào thời điểm ấy – đơn giản chỉ để tự làm rõ,” ông khai, “xem lượng mưa nhân tạo ở một khu vực có làm một quốc gia thân thiện trong vùng bị mất mưa đi hay không”. Chẳng hạn, liệu chúng ta có đang làm ruộng lúa ở Thái Lan thiếu nước hay không?” Tôi được trả lời là hoàn toàn không có chuyện đó, vì hơi ẩm trong không khí rất dồi dào nên thực chất không thể làm giảm lượng mưa ở khu vực khác; và tôi cũng được khuyên là không nên tiếp tục tìm hiểu vấn đề này nữa”.
Tuy nhiên, các nhà khoa học dân sự lại hoài nghi hơn hẳn về những hậu quả có thể phát sinh từ việc gieo mây. Chính cuộc tranh luận này đã khiến Thượng nghị sĩ Claiborne Pell, thành viên Đảng Dân chủ bang Rhode Island và là Chủ tịch tiểu ban, bắt đầu điều tra vấn đề vào năm 1972.
Tiến sĩ Matthew Meselson, Giáo sư sinh học tại Đại học Harvard và từng là cố vấn cho Chính phủ Mỹ, được tạp chí Science trích lời vào năm 1972, cảnh báo rằng: “Rõ ràng, việc sử dụng biện pháp thay đổi thời tiết như một vũ khí chiến tranh có khả năng gây ra sự tàn phá trên quy mô lớn, thậm chí có thể vượt ngoài tầm kiểm soát và không thể dự đoán trước”.■
Seymour M. Hersh
Anh Quốc (dịch)
Chú thích:
[1] Lao Panhandle: Thuật ngữ quân sự và địa lý chỉ dải lãnh thổ hẹp kéo dài ở khu vực Trung và Nam Lào. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, đây là khu vực mang tầm quan trọng chiến lược đặc biệt, nơi mạng lưới đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) chạy qua, đóng vai trò là hành lang vận tải huyết mạch của miền Bắc Việt Nam để tiếp tế cho chiến trường miền Nam [ND]