Tạp chí Phương Đông giới thiệu tới độc giả bài viết nghiên cứu vai trò của Tây Ban Nha trong cuộc can thiệp quân sự của liên minh Pháp – Tây Ban Nha vào Việt Nam giữa thế kỷ XIX, đăng trên Tạp chí Rivista di Studi Politici Internazionali (Nghiên cứu Chính trị Quốc tế) tập 42, năm 1975. Dựa trên các nguồn tư liệu ngoại giao, tác giả làm rõ động cơ, mức độ tham gia và chính sách của Madrid trong chiến dịch tại Nam Kỳ. Bài viết cho thấy, trái với Pháp – quốc gia theo đuổi mục tiêu thiết lập thuộc địa lâu dài, Tây Ban Nha chỉ tham gia nhằm bảo vệ các nhà truyền giáo và danh dự quốc gia, đồng thời không thực sự có tham vọng lãnh thổ. Qua việc phân tích sự khác biệt này, tác giả cũng nhấn mạnh tính chất lỏng lẻo, đầy nghi kỵ của liên minh Pháp – Tây Ban Nha. Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh ít được chú ý trong lịch sử quan hệ quốc tế và quá trình thực dân hóa Đông Nam Á.
*
1. Sự can dự của Pháp và Mỹ vào Việt Nam trong 30 năm qua đã gián tiếp khuyến khích các học giả nghiên cứu những tiếp xúc sớm hơn của châu Âu với vùng đất Đông Nam Á này. Các nhà sử học đã thừa nhận sự quan tâm của Tây Ban Nha đối với chủ nghĩa đế quốc ở châu Á, đặc biệt là tại vương quốc An Nam. Tuy nhiên, bằng chứng thường được viện dẫn chỉ là việc Tây Ban Nha đô hộ Philippines. Nhưng việc phân tích các tài liệu ngoại giao của Pháp và Tây Ban Nha cho thấy Tây Ban Nha đã ảnh hưởng đến sự phát triển quyền lực của Pháp trong khu vực này.

Trong nhiều thế kỷ, Tây Ban Nha đã duy trì mối liên hệ với người Việt Nam và Campuchia thông qua các nhà truyền giáo. Vào những năm 1850, các linh mục người Pháp và Tây Ban Nha bị bỏ tù và hành quyết, như đã từng xảy ra trước đó. Sau đó, vào mùa hè năm 1857, các nhà truyền giáo Tây Ban Nha ở khu vực Bắc Kỳ bị đàn áp và Giám mục của họ, José María Diaz, bị kết án tử hình trong tù. Trong tuyệt vọng, Tổng lãnh sự Tây Ban Nha tại Ma Cao, Nicasio Cañete y Moral, đã yêu cầu người Pháp ở Trung Quốc bảo vệ tính mạng của vị linh mục, nhưng họ đã đến quá muộn.
Khi người Pháp biết tin về cái chết của vị Giám mục và việc họ sử dụng hải quân, họ quyết định mời Tây Ban Nha tham gia vào một cuộc viễn chinh đã được lên kế hoạch từ trước đến khu vực này. Người Pháp dự định trừng phạt người Việt Nam vì các vụ xử chém, và thiết lập chế độ bảo hộ ở Nam Kỳ. Cái chết “đúng lúc” của Giám mục Tây Ban Nha Diaz cùng với sáng kiến yêu cầu Pháp viện trợ của Tổng lãnh sự Cañete đã mang lại cho Pháp cơ hội có được một đồng minh hữu ích cho cuộc phiêu lưu này. Ngoại trưởng Pháp Walewski đặt câu hỏi liệu Pháp có thể có từ 1.000 đến 1.500 quân từ Philippines hay không. Vào tháng 12, Ngoại trưởng Tây Ban Nha Martínez de la Rosa đã đồng ý cung cấp 1.200 người và hai tàu hơi nước. Sau đó, ông yêu cầu thông tin về số lượng binh lính Pháp tham gia và các mục tiêu quân sự cụ thể. Pháp không cung cấp những chi tiết đó nhưng mệnh lệnh vẫn được Madrid gửi đến Philippines trước lễ Giáng sinh để chuẩn bị cho nhiệm vụ.
Thống đốc của Tây Ban Nha tại Philippines, Fernando de Norzagaray, đã nhận được một tuyên bố về mong muốn của Tây Ban Nha trong việc bảo vệ các linh mục và danh dự của Tây Ban Nha. Ngoại trưởng Martínez de la Rosa nhấn mạnh rằng Tây Ban Nha chỉ quan tâm đến việc trừng phạt những kẻ phạm tội và bảo vệ các quyền của Tây Ban Nha. Ông cũng ra lệnh cho Thống đốc báo cáo về tình hình địa chính trị và kinh tế ở Nam Kỳ của Việt Nam, điều này sẽ hữu ích cho chính phủ trong việc quyết định cách giải quyết vấn đề An Nam. Trong khi đó, vào mùa thu năm 1858, quân đội Tây Ban Nha và Pháp đã chiếm được một dải đất ở Tourane (Đà Nẵng) nhưng do quy mô nhỏ nên họ không thể xâm nhập sâu hơn vào An Nam.
2. Đầu mùa hè, Leopoldo O’Donnell và chính phủ Liên minh Tự do lên nắm quyền ở Tây Ban Nha. Kế thừa một loạt vấn đề, bao gồm cả sự can thiệp vào Nam Kỳ, Thủ tướng O’Donnell đã chọn xem xét lại chính sách châu Á của Tây Ban Nha vì lo sợ Pháp có thể lợi dụng lời hứa công khai của Tây Ban Nha về việc cung cấp quân đội. Cùng với Bộ trưởng ngoại giao của mình, Saturnino Calderon Collantes, ông cho rằng việc Napoleon không thỏa thuận với Tây Ban Nha về các mục tiêu cụ thể sẽ đe dọa vị thế đàm phán và ảnh hưởng của ông đối với cuộc viễn chinh. Hơn nữa, cả hai đều cho rằng vì Quốc hội Tây Ban Nha đã không tham gia vào quyết định can thiệp, nên Hiến pháp có thể đã bị vi phạm. Cũng có khả năng phe đối lập chính trị của họ có thể sử dụng An Nam làm vũ khí chống lại họ.
Thủ tướng Tây Ban Nha O’Donnell yêu cầu Pháp nêu rõ mục tiêu quân sự của mình là gì, cung cấp cho Madrid bản sao các báo cáo quân sự và đề xuất những nhượng bộ mà họ muốn nhận từ Huế, để Tây Ban Nha cũng có thể quyết định đưa ra những yêu cầu “tương tự”. Vào ngày 24/11/1858, Alejandra Mon, đặc phái viên Tây Ban Nha tại Paris, đã thảo luận những điểm này với phía Pháp, nhưng phía Pháp đã tránh đưa ra bất kỳ cam kết nào, giả vờ thiếu thông tin từ An Nam. Họ chỉ nói rằng nếu sau này Pháp quyết định chiếm đất, Tây Ban Nha “sẽ được chia sẻ trên cơ sở bình đẳng”.
Người Tây Ban Nha tin rằng Napoleon muốn thuộc địa hóa một phần của Annam. Để quyết định thái độ của Tây Ban Nha, các quan chức Madrid đã yêu cầu Thống đốc Philippines Norzagaray báo cáo về việc liệu Tây Ban Nha có nên thành lập thuộc địa ở Annam hay không, với giả thuyết rằng Pháp có thể sẽ không từ bỏ phần lớn lãnh thổ có được từ cuộc viễn chinh chiếm đóng này và do đó, Tây Ban Nha muốn có một chính sách đáp ứng tình huống đó.
Dự đoán cuộc viễn chinh quân sự sẽ sớm kết thúc, Ngoại trưởng Collantes lại hỏi phía Pháp về mục tiêu chinh phạt An Nam của họ. Đặc phái viên Mon báo cáo lại rằng ông gặp phải khó khăn tương tự như trước, không nhận được câu trả lời từ Paris.
Vào tháng 2 năm 1859, Théodore-Adolphe Barrot, Đại sứ Pháp tại Madrid yêu cầu thêm viện trợ quân sự, lập luận rằng cuộc viễn chinh không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao nếu không có thêm sự hỗ trợ. Ông ta báo cáo rằng quân đội phải giành lại thế tấn công nếu muốn Huế nhượng bộ. Mặc dù người Pháp chỉ muốn một vài chiếc thuyền hoạt động trên các tuyến đường thủy nội địa của An Nam, Ngoại trưởng Tây Ban Nha Collantes ngay lập tức tận dụng tình hình để gây áp lực buộc Pháp phải đưa ra tuyên bố về mục tiêu, nhưng Mon báo cáo rằng người Pháp sẽ không hợp tác.
Vào cuối mùa xuân, Thống đốc Philippines Norzagaray đã gửi một bức điện trong đó lưu ý về chi phí lớn của cuộc viễn chinh, ngụ ý rằng nó sẽ phải là một phần của thỏa thuận cuối cùng với Annam. Ông tuyên bố Tây Ban Nha không có đủ binh lính để kiểm soát Philippines chứ đừng nói đến việc gửi một số đến Annam và hỏi “Tại sao phải mang vũ khí của chúng ta đến Bắc Kỳ (Tonkin) để thiết lập vị thế của mình trong một cuộc phiêu lưu đầy nghi ngờ, điều này sẽ đòi hỏi phải tăng cường lực lượng quân sự và hải quân của chúng ta” khi Tây Ban Nha cần phải làm rất nhiều việc ở những nơi mà mình đã sở hữu?
Vào cuối tháng 4/1859, Tổng lãnh sự Tây Ban Nha tại Macao Cañete nhấn mạnh trong một bức điện rằng cơ sở của một thỏa thuận cuối cùng phải là sự bình đẳng về nhượng bộ, đề xuất rằng Philippines phải được phép giao thương với Nam Kỳ. Ông khuyến nghị rằng chính phủ Huế phải chịu mọi chi phí của cuộc thám hiểm Pháp-Tây Ban Nha và phải trả tiền bồi thường.
Khi thảo luận về các địa điểm khả thi để làm thuộc địa, Cañete đề xuất Sài Gòn như một sự đền bù có giá trị tương đương với lãnh thổ mà Pháp có thể yêu sách. Ông nói rằng mặc dù Madrid có quyền được đòi hỏi đất đai, nhưng hoàn cảnh của Tây Ban Nha và Pháp lại khác nhau. Tây Ban Nha đã sở hữu một căn cứ lớn ở châu Á: Philippines. Pháp thì không, trong khi đó Paris dường như quan tâm đến việc thuộc địa hóa châu Á hơn Tây Ban Nha. Do đó, chắc hẳn Pháp sẽ đòi có một thuộc địa. Nếu Madrid có được đất ở Nam Kỳ, “hành động đó sẽ không mang lại lợi ích gì mà ngược lại sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng và thực sự”.
3. Ngay sau hai báo cáo này, có tin Huế muốn đàm phán hòa bình. Người châu Âu ở Việt Nam tin rằng người Việt Nam chỉ đang trì hoãn cho đến khi họ có thể mạnh lên, vì vậy họ đã đào hào phòng thủ trong khi chờ đợi chỉ thị từ châu Âu. Lực lượng Tây Ban Nha được lệnh phải đạt được “những lợi thế tương tự” như người Pháp nhưng không được chiếm bất kỳ lãnh thổ nào. Tây Ban Nha chỉ muốn các nhà truyền giáo được bảo vệ và có các quyền thương mại bình đẳng.
Madrid tiếp tục lo lắng rằng mình có thể không nhận được sự đối xử bình đẳng từ chính quyền Huế, chủ yếu là do không tin tưởng người Pháp. Khi đoàn viễn chinh chiếm Sài Gòn vào tháng 2/1859, Tây Ban Nha khăng khăng rằng quân đội của họ phải ở lại thành phố này chừng nào quân Pháp còn ở lại. Một năm sau, Madrid nhấn mạnh tầm quan trọng của sự bình đẳng trong mệnh lệnh gửi cho chỉ huy chiến trường mới là Đại tá Carlos Palanca. Đồng thời, Ngoại trưởng Tây Ban Nha Collantes phàn nàn với Mon rằng quân Pháp ở Nam Kỳ trước đó đã yêu cầu thêm người và vật tư. Tây Ban Nha đã chấp thuận yêu cầu này để tiếp tục tham gia cuộc viễn chinh.

Trong những tháng đầu năm 1860, người Pháp và người Tây Ban Nha ở An Nam đã đàm phán với Huế. Pháp đã quyết định đòi hỏi sự nhượng bộ về thương mại và đảm bảo tự do tôn giáo. Mặc dù Palanca đã được lệnh không đàm phán về đất đai, nhưng người Pháp tin rằng ông ta sẽ làm vậy. Tuy nhiên, họ đã không thảo luận điều này với Madrid trong suốt mùa đông năm 1859-1860.
Vào tháng 3, Đại sứ Pháp tại Tây Ban Nha Barrot viết thư cho Ngoại trưởng Collantes rằng người châu Âu đã không thể buộc người An Nam cầu hòa. Pháp rút một phần lực lượng của mình khỏi An Nam để làm nhiệm vụ ở Trung Quốc và do đó đề nghị với Collantes rằng phải có những thỏa hiệp với Huế để dẫn đến hòa bình. Collantes kết luận rằng Paris vẫn chưa muốn giải quyết dứt điểm vấn đề Nam Kỳ và do đó đã quyết định chờ đợi và quan sát thêm, trì hoãn việc trả lời thư của Barrot.
Sự do dự của Napoléon trong việc thống nhất các mục tiêu đã khiến các quan chức Tây Ban Nha mệt mỏi. Để đảm bảo rằng các nhà truyền giáo của mình được bảo vệ, chính phủ Tây Ban Nha đã đơn phương quyết định đồn trú một số binh lính của họ tại Nam Kỳ cho đến khi có một giải pháp cuối cùng khiến việc họ ở lại không còn cần thiết nữa.
Trong khi đó, Pháp và Tây Ban Nha không đạt được tiến triển nào trong việc giải quyết vấn đề với chính quyền Huế trong năm 1860. Các cuộc đụng độ quân sự cũng không phá vỡ được thế bế tắc. Các quan chức Tây Ban Nha muốn chấm dứt cuộc viễn chinh do chi phí quá lớn và nguy hiểm về chính trị. Pháp cũng mong muốn một giải pháp vì những vấn đề ngày càng gia tăng ở Trung Quốc. Pháp lúc này ám chỉ rằng họ muốn có một thuộc địa ở Nam Kỳ. Để thuyết phục Huế đạt được một thỏa thuận, Napoleon đã ra lệnh cho quân đội Pháp và Tây Ban Nha tấn công trở lại. Kết quả là, thêm hai tỉnh nữa nằm dưới sự kiểm soát của châu Âu. Các cuộc đàm phán được nối lại trong mùa hè năm 1861. Người An Nam cố gắng chỉ đàm phán với người Pháp với hy vọng sẽ gây chia rẽ và làm suy yếu các kẻ thù. Tây Ban Nha được đưa vào các cuộc đàm phán sau khi thuyết phục Pháp rằng Huế sẽ không bao giờ được giải quyết cho đến khi cả hai chính phủ châu Âu đồng ý về một chính sách thống nhất. Tây Ban Nha tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải bồi thường bình đẳng trên mọi điểm, trong khi không thể buộc Paris đưa ra bất kỳ tuyên bố nào nữa. Trong khi đó, Pháp đã vận chuyển quá nhiều quân Tây Ban Nha trở lại Manila khiến Tây Ban Nha không còn vị thế đàm phán mạnh mẽ ở Nam Kỳ.
4. Vào mùa xuân năm 1862, vấn đề An Nam, vốn đã cũ kỹ, lại được khơi dậy. Sự phản đối với chính phủ O’Donnel ngày càng gia tăng vào mùa xuân và vị tướng này lo sợ những người chỉ trích ông ta sẽ lợi dụng vấn đề Nam Kỳ. Ông không chỉ cần một chiến thắng ngoại giao nổi bật để làm dịu bớt sự phản đối, mà điều quan trọng không kém là ông muốn giải quyết vụ việc Nam Kỳ theo cách giữ được thể diện. Một nguyên nhân trực tiếp hơn khiến Tây Ban Nha lo ngại xuất phát từ một bức điện của chỉ huy Tây Ban Nha ở Sài Gòn, báo cáo rằng Huế sẽ sớm phải cầu hòa vì các cuộc nổi dậy trong nước và hành động quân sự của châu Âu.
Paris và Madrid không hề hay biết rằng các chỉ huy chiến trường đã ký kết một hiệp ước với chính phủ An Nam vào ngày 5/6/1862 (Hòa ước Nhâm Tuất). Palanca viết thư cho Collantes rằng thỏa thuận này là một thỏa thuận tốt, tốt nhất có thể đạt được, vì Huế sẽ cho phép tự do tôn giáo, mở các cảng cho thương mại của Tây Ban Nha, cho phép một nhà ngoại giao Tây Ban Nha cư trú tại Huế và trả tiền bồi thường. Ông viết, “Tôi đã không cố gắng đòi lãnh thổ, điều mà có lẽ tôi đã có thể đạt được”. Hiệp ước cũng quy định rằng An Nam sẽ nhượng một số vùng đất cho Pháp. Cả hai quốc gia châu Âu sẽ nhận tổng cộng 4 triệu đồng tiền An Nam để bù đắp chi phí và thiệt hại. Hiệp ước để cho Tây Ban Nha và Pháp tự phân chia khoản bồi thường này và quyết định cách hoàn trả cho các nhà truyền giáo của họ từ số tiền đó.

Đến cuối tháng 8, Paris và Madrid nhận được bản sao của hiệp ước và ngay lập tức bắt đầu xem xét vấn đề còn lại là khoản bồi thường 4 triệu đồng tiền An Nam. Người Pháp hài lòng vì Tây Ban Nha không nhận được bất kỳ nhượng bộ lãnh thổ nào, tin rằng điều này sẽ ngăn ngừa các vấn đề trong tương lai với Madrid. Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha Collantes cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Ngày 4/11/1862, các cuộc đàm phán cuối cùng bắt đầu tại Paris, với việc Tây Ban Nha viện dẫn quyền được hưởng lãnh thổ của mình nhằm gây sức ép buộc Pháp phải nhượng phần lớn khoản bồi thường. Pháp đề nghị chia cho Tây Ban Nha một nửa, và phía Tây Ban Nha đã chấp nhận vào tháng 1/1863. Các hiệp ước được ký kết chính thức vào ngày 4/8/1863, và về thực chất, cuộc phiêu lưu của Tây Ban Nha tại Nam Kỳ đã chấm dứt.
5. Động cơ của Tây Ban Nha khi tham gia vào chiến dịch này và cách họ hành động cho thấy Madrid coi đây chỉ là một hoạt động nhỏ. Bị thúc đẩy bởi nhu cầu bảo vệ danh dự quốc gia và tính mạng của các nhà truyền giáo, họ không thực sự nỗ lực để giành lấy lãnh thổ trong khu vực. Nhưng không thể phủ nhận rằng họ đã từng cân nhắc khả năng giành được những nhượng bộ như vậy. Tuy nhiên, các quan chức Tây Ban Nha hẳn sẽ bị coi là kém hiệu quả nếu họ không xem xét tất cả các khả năng có thể. Tuy vậy, các tài liệu ngoại giao của Pháp cho thấy rõ hơn rằng Napoléon III thực sự có ý định giành lấy một thuộc địa mới.
Nếu Tây Ban Nha muốn mở rộng lãnh thổ ở châu Á, họ chỉ cần tăng số lượng binh lính gửi tới Nam Kỳ. Việc có tới 6.000 lính Pháp được đưa sang An Nam, trong khi chỉ có 1.400 lính từ Manila cho thấy sự thờ ơ của Tây Ban Nha đối với việc thuộc địa hóa châu Á. Hơn nữa, các quan chức Tây Ban Nha biết rằng Pháp có nhiều tàu chiến và binh lính ở châu Á hơn, điều đó đồng nghĩa với việc Madrid sẽ phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng nếu cố gắng đưa ra các yêu sách lãnh thổ.

Chính quyền O’Donnell tìm kiếm những thành tựu ngoại giao nổi bật và các chiến thắng quân sự ít tốn kém ở gần Tây Ban Nha hơn, ở châu Phi hoặc châu Âu, nhằm làm dịu các chỉ trích trong nước. Cuộc phiêu lưu ở Nam Kỳ không đáp ứng được điều đó; vì vậy, chính phủ Tây Ban Nha không dành nhiều nỗ lực cho An Nam.
Một số nhà sử học cho rằng các nhà ngoại giao Tây Ban Nha đã gắn chặt chính sách đối ngoại của nước này với Pháp và quan hệ giữa hai chính phủ luôn mật thiết trong thế kỷ XIX. Tuy nhiên, sự kiện Nam Kỳ cho thấy điều ngược lại. Có những khác biệt cơ bản trong chính sách: Pháp muốn có một thuộc địa ở Nam Kỳ, còn Tây Ban Nha chỉ muốn bảo vệ người của mình và có thể mở đường cho các quan hệ thương mại trong tương lai. Pháp sử dụng danh nghĩa bảo vệ danh dự quốc gia và tính mạng, tài sản như một phương tiện để tiến tới thuộc địa hóa; còn đối với Tây Ban Nha, đó không phải phương tiện mà chính là mục tiêu. Các tài liệu về sự kiện này cho thấy đây là một liên minh không mấy ổn định, đặc trưng bởi sự nghi kỵ lẫn nhau trong cuộc xâm lược chung.
Cả Pháp và Tây Ban Nha đều đạt được những lợi ích nhất định ở Nam Kỳ. Pháp giành được chỗ đứng ở Đông Nam Á. Tây Ban Nha bảo vệ được các nhà truyền giáo, nhận được tiền bồi thường và mở ra quan hệ thương mại với An Nam. Quan trọng hơn, họ tránh được tất cả những vấn đề ở châu Á mà Pháp phải đối mặt về sau. Dù vào năm 1863 Tây Ban Nha không thể dự đoán được rằng Việt Nam sẽ trở thành một điểm nóng trong thế kỷ sau, họ hiểu rằng khi còn nhiều vấn đề chưa giải quyết ở Philippines, Santo Domingo và Bắc Phi, việc không phải bận tâm đến Nam Kỳ lại là một “điều may trong cái rủi”. Mặc dù những hoạt động ban đầu của Tây Ban Nha tại đây đã góp phần mở đường cho sự dính líu lâu dài của Pháp ở Đông Nam Á, xét cho cùng, sự kiện này chỉ là một chương nhỏ nhưng thú vị trong lịch sử quân sự và ngoại giao của Tây Ban Nha.■
JAMES W. CORTADA
Hoàng Anh (dịch)