Nghi lễ tiếp rước sứ Trung Hoa và lễ tấn phong thuở xưa

Trong mối quan hệ bang giao giữa nước ta với nước Trung Hoa thuở xưa, lễ tấn phong, và đi kèm với đó là nghi lễ tiếp rước sứ Trung Hoa, luôn đóng một vai trò rất hệ trọng, vì tuy vẫn giữ được nền độc lập, nhưng các vị Vua Việt Nam vẫn nhận tước phong của “Bắc triều” như một cách khôn khéo, cốt làm cho nước yên trị và cũng để tăng cường uy lực. Vì vậy, lễ tấn phong và tiếp sứ ở bất kỳ triều đại nào cũng được cử hành rất long trọng. Tạp chí Phương Đông trích đăng cuốn “Việt – Hoa thông sứ sử lược” (do Quốc học Thư xã xuất bản năm 1943) giới thiệu tới bạn đọc về các nghi lễ tiếp rước sứ Trung Hoa và lễ tấn phong thời Hậu Lê và đời Vua Minh Mạng.

1. Cuộc tiếp rước sứ Trung Hoa đời Hậu Lê

Cố Giovanni Filippo de Marini[1] sang truyền giáo ở nước ta ở thế kỷ thứ XVII đã mục kích một cuộc tiếp rước sứ Tàu về đời Hậu Lê. Cố thuật cuộc tiếp rước ấy như sau này:

“Khi đức Vua tiếp sứ Tàu thì tất cả các quan đại thần đều đi tùy giá. Bên văn ban cũng như võ ban ai nấy đeo dấu hiệu của bộ mình và có đông thuộc hạ mang chế phục riêng. Thêm vào đó còn rất nhiều các quan khác vừa văn, vừa võ, mặc sắc phục đẹp đẽ, trong số này có nhiều ông chưa được bổ vào phụng sự đức Vua nhưng cũng đến túc trực, khoe khoang được chú ý hơn những địch thủ của mình để hòng tiến thân và thành tựu Long giá, vì thế đã tăng hẳn vẻ lộng lẫy, uy nghiêm.

Chế phục của bọn tiểu đồng – nhất là của binh lính – bộ binh và kỵ binh hợp thành một cảnh sắc huy hoàng ít bậc quốc vương có được. Đội nào cũng có binh phục riêng, áo màu khác nhau. Binh khí là những giáo trường, trường thương, tên, súng hỏa mai, yển nguyệt đao, đoản thương hay siêu đao sáng loáng, dát bạc, dát vàng hay nạm ngà. Thủy quân cũng được lệnh đem một đoàn chiến thuyền đón sứ và dàn thành thế trận trên sông để sứ Trung Quốc giải trí. Sự tiếp rước linh đình và xán lạn. Trong cuộc tiếp kiến đầu tiên Vua Lê và Chúa Trịnh[2] mặc triều phục đi hia mũi nhọn vênh lên như mũi những chiếc thuyền nhỏ và đội một thứ mũ trông rất kỳ khôi. Vua và Chúa quỳ lễ bốn lễ, vái một vái dài nhận sắc thư của “Thiên Tử” Trung Hoa do sứ thần mang đến giao cho.

Đi đâu sứ thần cũng ở bên phải Vua và thay mặt “Hoàng đế” nên được các đình thần bái mạng. Lễ nghênh tiếp xong thì sứ thần được thù tiếp[3] như người thường nhưng ông là người ngoại quốc nên bao giờ cũng được tôn trọng như một đường quan.

Khu vực Ải Nam Quan ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 1896. Nguồn: Redsvn

Chiến thuyền sắp thành hàng 5 chiếc một, hàng nọ cách hàng kia đều nhau, thuyền sau nối thuyền trước thành nhiều dãy dài để nghênh tiếp Bắc sứ. Hai bên bờ sông, suốt một quãng dài mấy dặm, có dựng nhiều cột trên cắm cờ màu sắc khác nhau gió bay phấp phới.

Bộ binh đóng khắp mọi nơi, chỗ này gióng trống, chỗ kia đánh thanh la. Có chỗ thổi sáo, thổi kèn. Lúc sứ thần sắp tới nơi quân lính hoan hô vang trời lại bắn một loạt súng hỏa mai hay thần công để chào. Sứ thần ở dưới thuyền lên bộ thì bọn thuyền thủ tức thời bỏ mái chèo tay cầm súng hỏa mai tỏ dấu vui mừng và hoan hỷ”.

2. Lễ tấn phong đời Vua Minh Mạng

Năm Minh Mạng thứ hai (1821) được tin Vua Tàu phái Phan Cung Thì[4] án sát sứ Quảng Tây sang tuyên phong hồi tháng Chín năm Tân Tỵ (tháng 10/1821), Nam Triều cử hành Bang giao lễ. Ngày mùng 6 tháng 9 làm lễ tế cáo ở Thái miếu, ngày mùng 7 (2/10/1821) lễ ở điện Hoàng Nhân (bây giờ là điện Phụng Tiên), ngày mùng 8 (3/10/1821) làm lễ chúc thọ tại điện Từ Thọ[5].

Ngày 12 tháng 9 Vua Minh Mạng cử một vị tôn thất hợp với các quan: Khâm sai chưởng hữu quận công Nguyễn Văn Nhân, Hữu dinh phó đô thống chế Tôn Thất Bính, Hình bộ thượng thư Lê Bá Phẩm tạm quyền nhiếp việc triều chính. Kế đó, ngày 15 tháng 9 (10/10/1821) chọn được giờ Hoàng đạo, Hoàng thượng cùng 1.782 quan văn võ và 5.150 lính thị vệ ngự ra Bắc Thành đợi Bắc sứ đến tuyên phong.

Biệt kinh đô Huế, đạo ngự lần lượt đến Tân cảng (Quảng Trị) ngày Bính Dần (14 tháng 10), đến hành cung Quảng Bình ngày Canh Ngọ (18 tháng 10) qua sông Linh, Ngày Tân Vị (19 tháng 10) qua Hoành Sơn địa đầu hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh ngày Nhâm Thân (20 tháng 10) đạo ngự dừng lại Suối Sa (Nghệ An), ngày Giáp Tuất (22 tháng 10) đến Nghệ An, ngày Nhâm Ngọ (30 tháng 10) đến Thanh Hóa. Hoàng thượng và các quan tùy tùng lưu tại đó ít lâu, ngày Mậu Tý (5 tháng 11) Ngài chiêm yết Nguyên Miếu bái yết Triệu Tường và lăng Trường Nguyên (lăng đức Triệu Tổ Nguyễn Kim). Ngày Canh Dần (7 tháng 11) đạo ngự tới hành cung Thanh Bình, ngày Ất Vị (12 tháng 11) đến Bắc Thành (Hà Nội).

Tranh “Đại Nam Hoàng đế sắc phục tại vị” do họa sĩ Nguyễn Văn Nhân vẽ năm 1902.
Lễ phục Đại triều của các quan triều Nguyễn. Bên trái là quan văn, từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Bên phải là quan võ, từ nhất phẩm đến tam phẩm. Tranh minh họa trong Tập san BAVH năm 1916.

Hoàng thượng ngự tại Hành cung. Vào hồi tháng Chạp năm Tân Tỵ (tháng 1/1822), được tin sứ đoàn Trung Hoa sắp tới Nam Quan, nhà Vua cử các quan: Thanh Hóa Phó đốc trấn Phan Văn Tuy, Lại bộ hữu tham tri Nguyễn Văn Hưng, Tham bồi Lễ bộ Đinh Phiên lĩnh chức Quan thượng hậu mạng sứ khởi hành từ Bắc Thành đón Chánh sứ Phan Cung Thì tại Nam Quan.

Nhà Vua lại phong: Thần sách phó đô đốc Nguyễn Văn Trí, Hình bộ tham tri Võ Thanh Thông, và Thự tham tri Nguyễn Hữu Nghi sung chức Kinh Bắc nhai thủ hậu tiếp sứ.

Sau hết, Thị nội thống chế Võ Viết Bửu, Hộ bộ hữu tham tri Nguyễn Công Thiệp lĩnh chức Gia Quật Công Quán Hậu tiếp sứ đón tiếp sứ Trung Hoa tại công quán Gia Quật. Được Hoàng thượng ban cho kiếm ấn và dấu bằng ngà khắc chữ “Hậu mạng” và “Hậu tiếp” các quan kể trên ai nấy tuân mệnh làm phận sự.

***

Qua cửa Nam Quan, khâm mạng Phan Cung Thì định cử hành lễ tuyên phong vào ngày 20 tháng Chạp năm Tân Tỵ (12/1/1822) nhưng Hậu mạng sứ Phan Văn Tuy yêu cầu cử lễ đó sớm hơn hai ngày, tức là vào ngày 18 tháng Chạp (10/1/1822). Phan ưng thuận.

Ngày Giáp Ngọ (10/1/1822) đồ lỗ bộ[6] bày từ điện Kính Thiên đến Chu Tước môn. Từ cửa Chu Tước đến bến đò Nhĩ Hà chỗ nào cũng có lính và voi dàn ở hai bên đường.

Thị trung tả thống chế Tôn Thất Địch mặc phẩm phục cùng Sơn Nam trấn thủ Nguyễn Văn Hiếu, Binh bộ Tham tri Trần Minh Nghĩa, hộ bộ Tham tri Đoàn Viết Nguyên đến lầu “Cung Nghênh” vừa thiết lập ở bờ Nhĩ Hà để tiếp Sứ.

Hoàng thượng đội mũ cửu long, mặc áo vóc đỏ, thắt ngọc đái, ngự tại Chu Tước môn hợp cùng các vị Hoàng thân và các Triều thần chờ đón Sứ Tàu. Bắc Thành tổng trấn Lê Chất và Hiệp biện học sĩ Trịnh Hoài Đức (có sách chép là Trình Hoài Đức) sung chức Thị Vệ đại thần.

Gian giữa điện Kính Thiên đã sửa soạn sẵn nơi đặt Long đình[7], Hương án. Hoàng thượng ngự đến làm lễ tạ ân ở phía nam, chỗ Ngài túc trực thì ở phía Tây. Một viên Tham tri bộ Lễ túc trực bên tả điện, một vị thượng quan được cử ra thâu nhận sắc phong và hai nội tán sẵn sàng chờ đợi ở bên hữu điện. Lính thị vệ chỉnh tề xếp hàng ở ngoài sân.

***

Bốn ông Tôn Thất Địch, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Minh Nghĩa, Đoàn Viết Nguyên mặc phẩm phục cùng những chức sắc, binh lính đến bến đò phía nam sông Nhĩ Hà.

Ngày 18 tháng Chạp năm Tân Tỵ (10/1/1822) ngay từ sáng sớm, một vị tôn tước nhất phẩm đã thống lĩnh ngự lâm quân và phường bát âm (hết thảy đều mặc triều phục) đem quốc thư đến công quán đệ vào Long đình. Binh lính cơ nào đội ấy xếp hàng ngũ rất chỉnh tề. Các quan Hậu mạng sứ tiến đến phía trước Long đình kính cẩn hành lễ theo nghi lễ đã định. Sau đó, là cuộc kiến quan Khâm mạng Trung Hoa rồi trống giong, cờ mở, sứ đoàn lên đường. Qua sông Nhĩ Hà và tiến về bến đò phía Nam, Long đình sẽ đệ vào quán dịch vừa dựng ở bờ sông. Phan Cung Thì thay y phục nghỉ ngơi dùng chè. Kế đó, bốn quan hậu tiếp vào công quán kính cẩn chào Thanh Sứ rồi hành lễ tại phía trước Long đình.

Sứ đoàn lại lên đường. Thân thần Tôn Thất Địch và ba hậu tiếp sứ Nguyễn Văn Hiếu, Trần Minh Nghĩa, Đoàn Viết Nguyên lên ngựa hướng dẫn sứ đoàn; theo sau là binh lính, phường bát âm, hương án, Long đình, kiệu quan khâm mạng. Các tùng viên sứ đoàn thì hoặc đi cáng, hoặc cưỡi ngựa theo sau. Đến phía đông nam cửa Đại Hưng, các Hậu mạng sứ cùng tùng viên xuống ngựa đi bộ dẫn sứ đoàn đến cửa Chu Tước. Tới đó, Phan Cung Thì và viên thông ngôn xuống kiệu.

***

Đúng giờ ngọ, Thanh sứ theo Long đình vào cửa Chu Tước. Hoàng thượng và đình thần chờ đón ở phía hữu. Long đình tiến vào; Hoàng thượng và trăm quan quỳ xuống, khi Long đình đi khỏi mới đứng dậy. Long đình tiến lên điện Kính Thiên: Hoàng thượng và Thanh sứ theo sau tới giữa điện thì dừng lại. Trăm quan túc trực sẵn tại đó. Một quan nghi lễ tiến lên mời quan khâm mạng về chỗ.

Lúc ấy nội tán xướng to để Hoàng thượng lâm vị; các quan văn, võ xếp hàng theo phẩm trật ngoài sân.

Điện Kính Thiên, nơi Vua Minh Mạng đón tiếp sứ thần Trung Hoa Phan Cung Thì vào tháng 1/1822. Bức ký họa điện Kính Thiên của họa sĩ người Pháp H.Clerget (1818-1899)

Theo lời nội thị xướng, Hoàng thượng cùng trăm quan quỳ ở phía trước Long đình. Hai vị quan trong sứ đoàn mở sắc phong ra. Một vị khác do Thanh sứ cử ra từ trước, đón lấy tuyên đọc, rồi chuyển cho Thanh sứ dâng Hoàng thượng. Hoàng thượng cúi đầu nhận sắc và trao cho hai vị Hoàng thân. Hai vị này kính cẩn quỳ đón lấy. Hoàng thượng lễ tạ.

Lễ tất, Hoàng thượng chào quan khâm mạng rồi một vị quan coi việc nghi lễ mời quan Khâm mạng sang điện Cần Chánh. Hoàng thượng ngự ở phía tây, Thanh sứ ở phía đông dùng chè. Kế đó nhà Vua cùng trăm quan tiễn Thanh sứ đến cửa Chu Tước. Ở đấy các hậu mạng sứ chờ đợi sẵn để hướng dẫn sứ đoàn về công quán.

***

Từ hôm ấy trở đi, mỗi ngày hai lần, buổi sáng và buổi chiều nào, Nam triều cũng thiết tiệc sứ đoàn. Mỗi lần sứ đoàn dự tiệc xong đều được Vua ta tặng: 12 thỏi bạc, mỗi thỏi nặng chừng 339 gam 670; 4 thanh quế hảo hạng; 20 tấm vải hoàng bố; 20 tấm vải trúc bâu. Thêm vào đó còn: 2 cặp sừng tê giác, 1 cặp ngà voi, 1 bộ đồ chè bằng vàng.

Lúc sứ đoàn sắp qua cửa Nam Quan về nước, các hậu mạng sứ còn phụng mệnh Nam Triều tặng viên chánh sứ: 5 thanh quế hảo hạng, 10 tấm vải hoàng bố, 10 tấm vải trúc bâu, 4 cái quạt đồi mồi, 1 cái tăm bằng lông đuôi voi dát vàng, 1 cái tăm bằng lông đuôi voi dát bạc, 2 cái quạt bằng ngà.

Một viên quan nhà Thanh. Tranh vẽ của họa sĩ người Anh William Alexander trong cuốn sách “The Costume of China” xuất bản năm 1805.

Các vị ấy lại tặng viên bí thư của quan Khâm mạng cùng hai vị quan coi việc nghi lễ: 3 thỏi bạc, 1 thanh quế hảo hạng.

Tặng 7 viên văn, võ xung vào việc hộ vệ: 5 thỏi bạc, 20 tấm vải hoàng bố, 10 tấm trúc bâu.

Tặng 2 viên thông ngôn: 3 thỏi bạc, 10 tấm vải hoàng bố, 10 tấm vải xuân cầu.

Tặng 2 người thơ lại: 10 thỏi bạc, 5 tấm vải hoàng bố, 10 tấm vải xuân cầu.

42 tên khiêng kiệu chính cũng được thưởng: 5 thỏi bạc, 5 tấm vải trúc bâu.

29 tên khiêng kiệu phụ: 3 thỏi bạc, 3 tấm vải trúc bâu.

Sau hết, 23 người lính tùy tùng sứ đoàn cũng được thưởng mỗi người 5 thỏi bạc và 3 tấm vải trúc bâu.

***

Lúc Sứ đoàn đến Bắc Thành Hà Nội và khi Sứ đoàn rời Bắc Thành về nước, Nam Triều đều thiết đãi tiệc. Bữa thịnh soạn ấy gồm: 1 bàn có 50 đĩa đồ ăn thượng hạng, 7 bàn mỗi bàn có 40 đĩa đồ ăn trung hạng và 25 bàn mỗi bàn 30 đĩa đồ ăn hạ hạng.

Tiệc ở bàn thượng hạng thường có những món này:

2 bát yến, một bát vây, 1 bát long tu, 1 bát hải sâm, 1 bát cá mực, 1 bát gà quay, 1 bát gà giò trần, 1 bát vịt hầm, 1 bát tôm he, 1 bát thịt dê, 1 bát lòng lợn, 1 bát cua, 1 bát chân giò nhồi thịt, 1 bát thịt gà mái quay, 1 bát cá xào bột, 1 bát chim bồ câu, 1 bát thịt lợn luộc, 1 bát thịt lợn quay, 1 bát nhung (?), 1 bát thịt kho tàu, 1 bát thịt ba chỉ thái nhỏ, 1 bát chân giò ninh, 1 bát vịt quay, 1 bát vịt luộc, 1 đĩa bánh nhân vừng, 1 đĩa bánh rán, 1 đĩa bánh cao, 1 đĩa bánh ngọt nhuộm phẩm ngũ sắc, 1 đĩa bánh ngọt không nhuộm phẩm, 1 đĩa bánh trứng gà,  1 đĩa bánh bột sắn, 1 đĩa bánh bột sắn trắng, 1 đĩa bánh phu thê, 1 đĩa xôi nhuộm xanh, 1 đĩa xôi nhuộm đỏ, 1 đĩa quýt, 1 đĩa cam, 1 đĩa chuối, 2 bát chè đậu xanh, 1 đĩa bánh đậu xanh, 1 bát bánh khảo.

Lính thượng trà (phục vụ trà nước) và Lính thượng thiện (phục vụ nấu ăn) của triều Nguyễn. Tranh do họa sĩ Nguyễn Văn Nhân vẽ năm 1902.

Thêm vào đấy còn có những thức tráng miệng sau này: 1 đĩa bánh ngọt tạc theo bình bát bửu, 1 đĩa bánh ngọt tạc theo hình long, ly, quy, phượng, 1 đĩa bánh ngọt xếp hoa, 1 đĩa mứt, 1 đĩa nho, 1 đĩa bánh ngọt xếp theo hình ốc, hến, 1 đĩa táo, 1 đĩa xoan trà, 1 đĩa mứt bí, 1 đĩa bánh ngọt cắt hình tròn mà dẹp, 1 đĩa lạc, 1 đĩa hạt dưa, 1 đĩa mứt gừng, 1 đĩa bánh gừng (?)…

***

Sau khi tiễn quan khâm mạng Phan Cung Thì về nước, Vua Minh Mạng cùng các quan tùy tùng cũng rời Bắc Thành vào Huế. Ngài lần lượt qua 63 quán dịch lúc đó đã thiết lập thành hành cung…■

Bế Lãng Ngoạn – Lê Văn Hòe

 

Chú thích:

[1] Theo sách “Relation du Royaume du Tonquin” của Marini (trang 117, 118), Cố Giovanni Filippo de Marini sinh tại Taggia xứ Liguria (Ý) năm 1608, mất tại Hạ Môn năm 1682. Nhập vào Dòng Tên năm 1625, cố sang Đông Dương năm 1658 và ở Bắc Kỳ 14 năm, có lẽ bắt đầu từ năm 1647. Cố về Âu Châu một chuyến nhưng lại sang Viễn Đông và được cử làm giám mục Trung Quốc.

[2] Lê Thần Tông: 1629 – 1642 lần thứ nhất, 1649 – 1662 lần thứ nhì. Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1623 – 1657)

[3] Thù tiếp: tiếp đãi, BTV

[4] Có nguồn ghi là Phan Cung Thân, BTV

[5] Tài liệu sưu tầm ở bài: “Minh Mạng va recevoir l’investiture à Hà Nội” (Vua Minh Mạng đến Hà Nội làm lễ Thụ phong) của quan Lễ bộ thượng thư Huỳnh Côn (Bulletin des Amis du Vieux Huế 1917, p.89)

[6] Lỗ bộ: là tên đọc trại của từ gốc Lỗ bạ, nghĩa là những đồ nghi trượng đi theo khi vua xa giá, hoặc đồ nghi vệ như binh khí dùng khi quan đi ra, BTV

[7] Long đình: bàn sơn son thếp vàng/án chạm rồng, có mui che, thường dùng để rước sắc chỉ của vua, BTV

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN