Chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh hiện nay và sự hồi sinh của Học thuyết Monroe

Trong thời gian gần đây, Washington đang ngày càng gia tăng áp lực nhằm lật đổ chính quyền Venezuela – báo hiệu việc chính quyền Donald Trump sẵn sàng khôi phục tư duy “châu Mỹ của người Mỹ” vốn có từ thế kỷ XIX. Hai thế kỷ sau khi ra đời, Học thuyết Monroe dường như đang được hồi sinh để phục vụ chiến lược của Washington tại Mỹ Latinh, trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt với Nga và Trung Quốc ở khu vực này.

Bài viết dưới đây sẽ phân tích nguồn gốc lịch sử và quá trình diễn biến của Học thuyết Monroe, việc chính quyền Trump gần đây nhấn mạnh áp dụng học thuyết này trong chính sách an ninh, cũng như thực tiễn triển khai đối với Mỹ Latinh hiện nay – đặc biệt là trường hợp Venezuela. Qua đó, chúng ta sẽ thấy rõ đây đang là một trọng tâm đối ngoại của Washington, khi các cường quốc lớn chơi cuộc chơi địa chiến lược phân chia ảnh hưởng của mình.

Học thuyết Monroe trong lịch sử: Từ chống thực dân đến bá quyền khu vực

Học thuyết Monroe được Tổng thống Mỹ James Monroe tuyên bố năm 1823 với mục tiêu ban đầu là ngăn chặn sự can thiệp của các đế quốc châu Âu vào Tây Bán Cầu. Thời điểm đó, nhiều quốc gia Mỹ Latinh vừa giành độc lập khỏi ách thuộc địa Tây Ban Nha; Washington muốn khẳng định rằng châu Mỹ không còn là sân chơi cho chủ nghĩa thực dân châu Âu. Thông điệp Monroe nêu rõ Mỹ sẽ không chấp nhận bất kỳ nỗ lực nào của các cường quốc châu Âu nhằm tái chiếm hay can thiệp vào các nước Tây Bán Cầu, đồng thời Mỹ cam kết không can dự vào công việc nội bộ của châu Âu. Điều này thể hiện tinh thần biệt lập của Hoa Kỳ thời kỳ đầu, khi Mỹ muốn bảo vệ các nước láng giềng mới độc lập và cũng bảo vệ chính không gian ảnh hưởng của mình trước tham vọng Âu châu.

Tuy nhiên, theo thời gian, Học thuyết Monroe đã biến tướng thành công cụ phục vụ chủ nghĩa bá quyền khu vực của Washington. Vào đầu thế kỷ XX, Tổng thống Theodore Roosevelt đã đưa ra Hệ luận Roosevelt, bổ sung cho Học thuyết Monroe, khẳng định Mỹ có quyền hành động như một “cảnh sát quốc tế” tại Tây Bán Cầu để can thiệp vào các nước láng giềng trong trường hợp họ “mắc sai phạm” hoặc bất ổn. Thực tế, từ khoảng năm 1904 trở đi, Mỹ đã nhiều lần đem quân can thiệp trực tiếp vào Cuba, Haiti, Cộng hòa Dominica, Nicaragua… dưới danh nghĩa giữ trật tự và ổn định trong khu vực. Học thuyết Monroe, vốn ban đầu nhằm chống chủ nghĩa thực dân, nay được viện dẫn để biện minh cho những hành động can thiệp và mở rộng ảnh hưởng của Washington ở Mỹ Latinh. Chính giới truyền thông Mỹ nhận xét rằng trải qua các đời tổng thống, học thuyết này dần mang “màu sắc đế quốc” khi được dùng để biện hộ cho việc Mỹ can dự vào công việc nội bộ các nước láng giềng. Chẳng hạn, Tổng thống Ronald Reagan trong thập niên 1980 từng tái sử dụng Học thuyết Monroe để biện minh cho các chiến dịch can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn “mối họa cộng sản” ở Trung Mỹ.

Tranh biếm họa trên Tạp chí Judge về việc Học thuyết Monroe được Mỹ áp dụng cho Mỹ Latinh với một số điều kiện nhất định. Nguồn: Thư viện Quốc hội Mỹ, tháng 1/1903.

Đối với nhiều người dân Mỹ Latinh, Học thuyết Monroe mang ý nghĩa tiêu cực vì gắn liền với lịch sử dài can thiệp của Hoa Kỳ trong khu vực. Theo tờ báo Nga The Moscow Times, phần lớn các quốc gia Mỹ Latinh nhìn nhận Học thuyết Monroe như cái cớ để Washington viện dẫn mỗi khi tiến hành những cuộc can thiệp quân sự đơn phương tại khu vực. Quả thực, lịch sử quan hệ Mỹ – Mỹ Latinh đã chứng kiến không ít “vết sẹo” do chính sách Monroe để lại. Một bài xã luận trên Global Times (Trung Quốc) liệt kê hàng loạt hệ quả tiêu cực của Học thuyết Monroe: từ việc Mỹ kích động Chiến tranh Mỹ – Mexico (1846-1848) và Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha (1898) chiếm thuộc địa của Tây Ban Nha, trực tiếp chiếm đóng Cuba và thôn tính quyền quản lý kênh đào Panama; cho đến việc Mỹ ngấm ngầm hậu thuẫn các cuộc đảo chính lật đổ chính phủ hợp pháp ở Guatemala (1954) và Chile (1973), hay thậm chí đưa quân bắt cóc Tổng thống Panama (1989). Những hành động vì lợi ích của Washington đã dẫn đến “hậu quả thảm khốc cho cả khu vực”, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của các quốc gia Mỹ Latinh và các quyền cơ bản của người dân ở đây. Bởi vậy, các nước Mỹ Latinh từ lâu đã “ý thức sâu sắc và bất bình” trước sự can thiệp của Washington vào độc lập, chủ quyền của họ. Học thuyết Monroe – từ chỗ từng được chào đón như lá chắn chống thực dân thế kỷ XIX – về sau bị công luận khu vực lên án như biểu tượng của chủ nghĩa bá quyền Hoa Kỳ ở Tây Bán Cầu.

Chính quyền Trump và sự hồi sinh của Học thuyết Monroe

Sau Chiến tranh Lạnh, mặc dù Học thuyết Monroe không được các đời Tổng thống Mỹ nhắc đến công khai, nhưng tư tưởng xem Mỹ Latinh là “sân sau” cần bảo vệ khỏi ảnh hưởng bên ngoài vẫn âm ỉ tồn tại. Đến thời chính quyền Donald Trump (2017-2021), tư tưởng này được phục hồi một cách mạnh mẽ và công khai, trở thành nét đặc trưng trong chính sách an ninh của Washington. Chiến lược An ninh Quốc gia do chính quyền Trump công bố ngày 04/12/2025 đã dành sự ưu tiên chưa từng có cho khu vực Tây Bán Cầu, nhấn mạnh việc nước Mỹ cần “tái khẳng định và thực thi Học thuyết Monroe” nhằm khôi phục ưu thế của Hoa Kỳ ở Mỹ Latinh. Văn kiện chiến lược này, được một số học giả mệnh danh là “Hệ luận Trump” của Học thuyết Monroe, nêu rõ mục tiêu của Washington là ngăn chặn các “đối thủ ngoài khu vực” thiết lập hiện diện quân sự hoặc kiểm soát các tài sản chiến lược tại Tây Bán cầu. Nói cách khác, Trump công khai tuyên bố rằng Mỹ Latinh là vùng ảnh hưởng đặc quyền của Hoa Kỳ và sẽ không dung thứ sự xâm nhập của các cường quốc như Trung Quốc, Nga. Đây là một sự trở lại rõ rệt với logic “Châu Mỹ của người Mỹ” như thời thế kỷ XIX.

Việc chính quyền Trump lớn tiếng “hồi sinh” Học thuyết Monroe đã vấp phải phản ứng chỉ trích mạnh mẽ từ nhiều phía. Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov tuyên bố chính sách mới của Washington ở Mỹ Latinh đi ngược luật pháp quốc tế, và Matxcơva “kịch liệt phản đối cách tiếp cận” phục hồi “Học thuyết Monroe lỗi thời” này. Lavrov cáo buộc Mỹ đang tìm cách tái định hình trật tự khu vực theo ý mình – tương tự kiểu áp đặt trong quá khứ – và khẳng định Nga cùng các nước tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc sẽ “bảo vệ vững chắc các nguyên tắc chủ quyền” của các quốc gia Mỹ Latinh trước tham vọng bá quyền của Washington. Về phía Trung Quốc, tuy không hiện diện quân sự trực tiếp ở Tây Bán Cầu, Bắc Kinh cũng lên tiếng phản đối tư duy “Bán cầu Tây là của Mỹ”. Các bình luận trên truyền thông nhà nước Trung Quốc nhấn mạnh rằng Mỹ Latinh không phải thuộc địa của Hoa Kỳ, đồng thời cảnh báo việc Washington áp dụng trở lại Học thuyết Monroe sẽ chỉ làm gia tăng “sự ghẻ lạnh và ác cảm” của người Mỹ Latinh đối với nước Mỹ. Rõ ràng, việc chính quyền Trump khôi phục luận điệu Monroe đã khơi lại nỗi bất bình lịch sử tại khu vực này và làm dấy lên lo ngại về một thời kỳ “Ngoại giao khẩu súng” mới của Washington ở Tây Bán Cầu.

Triển khai trên thực tế: Cuộc cạnh tranh ảnh hưởng tại Venezuela

Chính sách Mỹ dưới thời Trump đối với Mỹ Latinh không chỉ dừng ở lời nói, mà đã được hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể – rõ nét nhất là trong cuộc khủng hoảng Venezuela. Caracas trở thành “chiến trường” nơi Học thuyết Monroe phiên bản thế kỷ XXI được thử nghiệm, khi Washington công khai hậu thuẫn nỗ lực thay đổi chế độ nhằm loại bỏ chính phủ Tổng thống Nicolás Maduro – người theo đường lối thân cận với Nga và Trung Quốc.

Chiến lược An ninh Quốc gia do chính quyền Trump công bố đầu tháng 12/2025 đã dành sự ưu tiên chưa từng có cho khu vực Tây Bán cầu, nhấn mạnh nước Mỹ cần “tái khẳng định và thực thi Học thuyết Monroe” nhằm khôi phục ưu thế của Hoa Kỳ ở Mỹ Latinh. Hình minh họa

Hiện Mỹ tiếp tục tập trung lực lượng quân sự để gây sức ép mạnh mẽ lên quốc gia này, về thực chất, đây là cách Mỹ triển khai chiến lược kiểm soát toàn bộ khu vực Caribe. Tổng thống Trump tuyên bố Mỹ sẽ triển khai một lực lượng hải quân quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử tại khu vực phía Nam nước Mỹ nhằm bao vây toàn diện Venezuela. Điều này cho thấy đây không còn là các biện pháp gây sức ép quân sự đơn lẻ như trước, mà là một cuộc phong tỏa và bao vây toàn diện. Trong tuyên bố của mình, ông Trump đưa ra ba cáo buộc chính: thứ nhất, Venezuela đã “đánh cắp” dầu mỏ, đất đai và các tài sản khác của Mỹ và buộc phải hoàn trả; thứ hai, chính quyền Maduro bị coi là bất hợp pháp; thứ ba, Venezuela sử dụng các mỏ dầu bị cáo buộc là của Mỹ để tài trợ cho khủng bố ma túy và buôn người. Trên cơ sở đó, Mỹ liệt Venezuela vào danh sách các tổ chức khủng bố nước ngoài. Một điểm đáng chú ý trong tuyên bố của Trump là ông khẳng định sẽ không cho phép bất kỳ chế độ thù địch nào với Mỹ chiếm giữ đất đai, dầu mỏ và tài sản mà ông cho là thuộc về Mỹ, đồng thời yêu cầu phải lập tức hoàn trả.

Rõ ràng, việc Mỹ gán cho Venezuela tội chiếm đoạt đất đai và tài sản mang tính áp đặt, bạo ngược và thể hiện bản chất xâm lược. Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử, các mỏ dầu này trước đây do các tập đoàn Mỹ đầu tư, cho đến thời Tổng thống Hugo Chávez thì bị quốc hữu hóa. Mỹ vì thế chịu thiệt hại lớn và cay đắng. Đây có thể là căn nguyên khiến chính quyền Trump cho rằng Venezuela “đánh cắp” tài sản và đòi lại. Có thể hiểu lập luận của Mỹ theo hướng đó, nhưng trên thực tế, đây chỉ là một cái cớ mang tính cưỡng ép để tiến hành tấn công và can thiệp vào Venezuela.

Sau các vụ tấn công hủy diệt các xuồng của Venezuela bị gán cho chở ma túy vào đất Mỹ, đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/1/2026, ông Trump đã ra lệnh cho Bộ Chiến tranh tổ chức chiến dịch quân sự chớp nhoáng xâm nhập vào Caracas bắt vợ chồng Tổng thống Maduro đưa về Mỹ để xét xử. Ông Maduro và vợ bị cáo buộc tội cầm đầu tổ chức khủng bố và vận chuyển ma túy vào nước Mỹ từ nhiều năm nay. Sự kiện này làm rung động thế giới, Mỹ đã vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Quyết định của Trump làm đảo lộn trật tự thế giới. Ông Trump đã thực hiện sử dụng sức mạnh Mỹ để tấn công vào bất kỳ quốc gia nào “đe dọa an ninh của Mỹ”. Hoạt động này của Trump vượt qua sự phê duyệt của Quốc hội Mỹ. Dư luận thế giới cho rằng Trump đang đi nước cờ sai lầm. Nhiều quốc gia Mỹ Latinh có nguy cơ bị Mỹ tấn công dựa trên Học thuyết Monroe. Sự kiện ông Trump ra lệnh bắt vợ chồng Tổng thống Venezuela Maduro đưa về Mỹ giam giữ, xét xử sẽ tiếp tục là chủ đề nóng quốc tế.

Ông Nicolas Maduro và vợ được các đặc vụ Mỹ đưa từ trực thăng ra xe bọc thép để đến tòa án liên bang ở Manhattan vào ngày 5/1/2026. Ảnh: XNY/Star Max

Tóm lại, chiến dịch của Washington tại Venezuela thể hiện rõ tinh thần của Học thuyết Monroe: Mỹ quyết không để một quốc gia ở Bán cầu Tây nằm ngoài quỹ đạo ảnh hưởng của mình, đặc biệt khi quốc gia đó lại do một chính quyền đối nghịch và liên kết với các cường quốc ngoài khu vực lãnh đạo.

Dưới thời Trump, Washington cũng khôi phục chính sách “cây gậy lớn” với Cuba và Nicaragua. Mỹ siết chặt cấm vận Cuba sau thời gian nới lỏng của chính quyền Obama, đồng thời áp đặt các biện pháp trừng phạt quan chức cấp cao của Nicaragua, với mục tiêu chung là làm suy yếu các chế độ cánh tả thân Nga – Trung tại vùng Caribbe và Trung Mỹ. Các quốc gia lớn khác như Brazil, Argentina, Mexico cũng chịu sức ép rất lớn từ cách tiếp cận bá quyền của Mỹ.

Đáng chú ý, cuộc đối đầu tại Venezuela đã lôi kéo trực tiếp các cường quốc ngoài khu vực nhập cuộc, biến quốc gia Nam Mỹ này thành tâm điểm của cuộc cạnh tranh địa chiến lược Đông – Tây ngay tại “sân sau” của Hoa Kỳ. Nga và Trung Quốc kiên quyết đứng về phía chính phủ Maduro, vừa để bảo vệ lợi ích của họ ở Venezuela vừa để thách thức ảnh hưởng của Mỹ. Về kinh tế, Bắc Kinh đã rót những khoản đầu tư và cho vay khổng lồ vào Venezuela trong hai thập niên qua – ước tính trên 60 tỷ USD kể từ 2007, biến Trung Quốc thành chủ nợ lớn nhất và đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Caracas. Các dự án hợp tác dầu khí, khai khoáng, viễn thông giữa Trung Quốc và Venezuela phát triển mạnh, đổi lại Trung Quốc được tiếp cận nguồn dầu lửa dồi dào từ quốc gia có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới này. Nga cũng tích cực hỗ trợ Maduro về quân sự và an ninh: Moskva cung cấp vũ khí, cử chuyên gia kỹ thuật sang bảo dưỡng khí tài, thậm chí từng điều máy bay ném bom chiến lược sang tập trận chung với không quân Venezuela như một tín hiệu răn đe Mỹ. Cả Nga và Trung Quốc đều nhiều lần dùng tiếng nói của mình tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để chặn các nghị quyết bất lợi cho Maduro. Rõ ràng, trong ván cờ Venezuela, Moscow và Bắc Kinh không chỉ bảo vệ một đồng minh, mà còn muốn thách thức Học thuyết Monroe ngay trước ngõ nhà của Mỹ.

Chính quyền Trump coi sự can dự của Nga và Trung Quốc tại Venezuela là mối đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích sống còn của Hoa Kỳ ở Tây Bán Cầu. Bản Chiến lược An ninh Quốc gia do Trump công bố đã chỉ rõ mục tiêu đẩy lùi ảnh hưởng của Bắc Kinh và Moskva tại Mỹ Latinh, nhấn mạnh việc cần ngăn Trung Quốc tiếp cận các tài nguyên chiến lược (căn cứ quân sự, khoáng sản quan trọng…) ở khu vực này. Giới hoạch định chính sách ở Washington lo ngại viễn cảnh một quốc gia ngay trong “sân sau” của Mỹ nhưng lại trở thành “tiền đồn” cho ảnh hưởng của Nga – Trung. Do đó, không ngạc nhiên khi Washington theo đuổi “chiến dịch gây áp lực tối đa” nhằm thay đổi chế độ ở Venezuela, với kỳ vọng dựng lên một chính phủ thân Mỹ, qua đó loại bỏ đầu cầu ảnh hưởng của Nga – Trung và củng cố vị thế của Hoa Kỳ tại Mỹ Latinh. Trong toan tính của Nhà Trắng, nếu thành công tại Venezuela, Mỹ sẽ gửi một thông điệp răn đe mạnh mẽ tới các nước khác trong khu vực: rằng “vùng ảnh hưởng” của Washington ở Tây Bán Cầu là bất khả xâm phạm.

Mỹ Latinh trên bàn cờ địa chiến lược của các cường quốc

Việc chính quyền Mỹ hiện nay – điển hình là dưới thời Donald Trump – tái áp dụng Học thuyết Monroe cho thấy Mỹ Latinh vẫn giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của Washington. Trong khi Nga tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại không gian hậu Xô-viết ở Đông Âu và Trung Quốc trỗi dậy quyết liệt ở châu Á – Thái Bình Dương, thì Hoa Kỳ cũng không giấu tham vọng giữ chặt “sân sau” của mình tại Tây Bán Cầu. Thực tế, trật tự thế giới đang có chiều hướng quay lại mô hình phân chia khu vực ảnh hưởng giữa các cường quốc – gợi nhớ “thời kỳ Chiến tranh Lạnh mới” hoặc thậm chí là thế kỷ XIX với những đế quốc khu vực. Trong bối cảnh đó, Mỹ Latinh trở thành đấu trường cạnh tranh địa chính trị giữa một bên là Washington quyết bảo vệ vai trò bá chủ truyền thống, với bên kia là các thế lực ngoại khu vực như Bắc Kinh và Moskva đang thách thức nguyên trạng. Cuộc tranh giành ảnh hưởng này chắc chắn sẽ định hình tương lai chính trị – kinh tế của cả khu vực.

Từ góc nhìn của Mỹ, việc tái khẳng định Học thuyết Monroe là một bước đi “phòng thủ chiến lược” nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và lợi ích ngay trước cửa nhà. Washington lo ngại nếu để mất ảnh hưởng ở Mỹ Latinh, họ không chỉ suy giảm vị thế siêu cường ở bán cầu Tây mà còn tạo khoảng trống cho đối thủ khai thác, đe dọa trực tiếp an ninh nước Mỹ, chẳng hạn nguy cơ Nga thiết lập căn cứ quân sự hay Trung Quốc kiểm soát các cảng chiến lược gần Mỹ. Tuy nhiên, từ góc độ các nước Mỹ Latinh và cộng đồng quốc tế, chính sách “Nước Mỹ trên hết” này lại phảng phất tư duy bá quyền nước lớn, coi nhẹ tiếng nói và chủ quyền của các quốc gia nhỏ. Nhiều ý kiến cho rằng việc Hoa Kỳ lạm dụng sức mạnh để can thiệp thô bạo – như trường hợp Venezuela – sẽ chỉ khoét sâu thêm mâu thuẫn với Mỹ Latinh và “phản tác dụng” về lâu dài. Thật vậy, nếu Mỹ Latinh cảm thấy bị coi thường và dồn ép, họ có thể xích lại gần Nga, Trung Quốc hơn nhằm cân bằng ảnh hưởng, dẫn đến kết cục ngược với mục tiêu của Washington.

Nhìn chung, chính sách của Mỹ hiện nay đối với Mỹ Latinh – đặc biệt qua ví dụ Venezuela – cho thấy Học thuyết Monroe vẫn là “sợi chỉ đỏ” định hướng hành động của Washington tại khu vực này. Trong ván cờ địa chiến lược toàn cầu thế kỷ XXI, Mỹ Latinh một lần nữa bị đặt vào thế giằng co giữa các cường quốc. Đối với Hoa Kỳ, giữ vững ảnh hưởng áp đảo ở Tây Bán Cầu là cách để khẳng định vị thế siêu cường trước sự trỗi dậy của các đối thủ. Ngược lại, đối với Nga và Trung Quốc, thách thức ảnh hưởng của Mỹ tại “sân sau” của Washington vừa mở rộng tầm với chiến lược của họ, vừa tạo đối trọng gây sức ép với Mỹ trên bàn đàm phán những vấn đề khác (như Ukraine, Đài Loan…). Theo nhiều nhà quan sát, cách tiếp cận này cũng đang gieo mầm cho xung đột mới trong trật tự thế giới đang ngày càng phân mảnh nhiều hơn. Dù kết cục ra sao, có thể khẳng định rằng việc hồi sinh Học thuyết Monroe đã, đang và sẽ là một nhân tố chủ chốt định hình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Tây Bán Cầu – và qua đó ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai địa chính trị và an ninh của châu Mỹ và thế giới.■

TRỌNG KHANG

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN