Châu Âu chìm trong đống đổ nát sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Hàng chục triệu người thiệt mạng, các thành phố bị tàn phá, nền công nghiệp sụp đổ, cơ sở hạ tầng bị bom đạn phá hủy nặng nề. Nạn đói, dòng người tị nạn và khủng hoảng nhân đạo lan rộng ra khắp lục địa. Bên cạnh đó, châu Âu còn bị chia cắt theo ranh giới Chiến tranh Lạnh với một bên là Tây Âu nghiêng về Hoa Kỳ, còn Trung và Đông Âu thì chịu ảnh hưởng của Liên Xô.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế châu Âu rơi vào vòng luẩn quẩn: máy móc lạc hậu, thương mại bị gián đoạn, sản xuất đình trệ. Để hỗ trợ phục hồi khu vực, Mỹ đã triển khai kế hoạch Marshall từ năm 1947, cung cấp khoảng 13 tỷ USD cho các quốc gia Tây Âu. Chính sách này không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn thúc đẩy gỡ bỏ các rào cản thương mại, ổn định hệ thống tiền tệ và giúp phục hồi ngành công nghiệp, giảm thất nghiệp và khôi phục tiêu dùng. Với sự ổn định về kinh tế vào năm 1949, NATO được thành lập như một liên minh quân sự giữa Mỹ và các quốc gia Tây Âu, nhằm đối phó với Liên Xô. Hỗ trợ từ Mỹ không chỉ giúp Tây Âu phục hồi mà còn tạo nền tảng cho sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia. Năm 1951, Cộng đồng Than và Thép châu Âu (ECSC) được thành lập theo Hiệp ước Paris bởi 6 quốc gia là: Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, đánh dấu bước đầu tiên quan trọng trong tiến trình hội nhập châu Âu, đặt nền móng cho liên minh kinh tế sâu rộng hơn. Tiếp đó, vào năm 1957, Hiệp ước Rome ra đời, thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), một bước đi quan trọng trong việc xây dựng một thị trường chung và thúc đẩy tự do thương mại. Sự hợp tác này dần mở rộng và phát triển. Vào năm 1993, Liên minh Châu Âu (EU) chính thức được thành lập theo Hiệp ước Maastricht, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình hợp tác chính trị và kinh tế giữa các quốc gia châu Âu.

Như vậy, nhờ vào sự hỗ trợ kinh tế mạnh mẽ từ Mỹ, không chỉ nền kinh tế Tây Âu được phục hồi mà còn dẫn đến việc hình thành Liên minh Châu Âu như một liên minh vững mạnh, khẳng định vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình và phát triển bền vững.
Từ cuối những năm 1960, châu Âu bắt đầu nhập khẩu đáng kể dầu mỏ và khí đốt từ Liên Xô. Dù giữa hai bên vẫn tồn tại đối đầu chính trị, các nước như Tây Đức và Pháp vẫn lựa chọn hợp tác năng lượng vì lợi ích kinh tế. Nga có nguồn cung năng lượng lớn cộng với vị trí địa lý phù hợp do vậy mà chi phí vận chuyển năng lượng qua đường ống rẻ hơn nhiều so với nhập khẩu LNG từ xa. Một số lãnh đạo châu Âu khi đó tin rằng thương mại năng lượng có thể góp phần giảm căng thẳng chính trị, tạo ra “hòa bình thông qua phụ thuộc lẫn nhau”. Ngược lại, Mỹ lo ngại điều này có khả năng gây ra sự phụ thuộc, làm gia tăng rủi ro an ninh chiến lược. Thực tế, nguồn năng lượng giá rẻ từ Nga đã giúp châu Âu tăng trưởng mạnh mẽ, rút ngắn thời gian tái thiết, giảm chi phí sản xuất và duy trì cạnh tranh. Tuy nhiên điều này cũng đã hình thành một mức độ phụ thuộc nhất định.
Trong nhiều thập kỷ với những thành tựu kinh tế, chính trị và xã hội đạt được, Liên minh châu Âu ngày càng trở nên tự tin vào vị thế của mình trên trường quốc tế. Khối ngày càng xem mình là một trung tâm quyền lực lớn, có tiếng nói và ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt với sự hỗ trợ về an ninh từ Hoa Kỳ. Sự kết hợp giữa sức mạnh nội khối và “cái ô bảo trợ” từ Mỹ đã khiến liên minh này tỏ ra cứng rắn hơn trước những vấn đề liên quan tới Nga hay các quốc gia đối trọng.
Xét trên cả tiến trình lịch sử, quan hệ giữa Mỹ và EU có thể được xem là mối quan hệ hợp tác nhưng bất cân xứng, với một bên là EU hưởng lợi từ sự bảo trợ của Mỹ và một bên là Mỹ tận dụng EU như đối tác chiến lược của khu vực. Thông qua cuộc chiến tranh đặc biệt Nga – Ukraine ta có thể nhìn nhận rõ hơn về mối quan hệ không đồng đều này. Cán cân trước kia nghiêng về phía Mỹ với sức nặng gánh vác toàn khối. Trong những năm đầu của cuộc chiến, dưới thời Tổng thống Joe Biden, Mỹ tích cực viện trợ và dẫn dắt Liên minh châu Âu. Chính từ sự ủng hộ này đã giúp EU tự tin theo đuổi đường lối cứng rắn với Nga, đặt cược lớn vào việc hỗ trợ Ukraine để đạt được ưu thế chiến lược. Tuy nhiên từ khi Donald Trump lên nắm quyền và yêu cầu chia sẻ trách nhiệm, sự phụ thuộc của châu Âu vào Mỹ đã bộc lộ rõ ràng. Lời tuyên bố từ Nhà Trắng như một cú hích làm rung chuyển toàn khối châu Âu. Không còn sự hậu thuẫn mạnh mẽ như trước, EU ngay lập tức gặp khó khăn trong việc duy trì cùng lúc gánh nặng quân sự, tài chính và chính trị trong cuộc xung đột. Càng về sau ta càng thấy rằng năng lực của EU trong vai trò mới này vẫn còn nhiều giới hạn.
Ở giai đoạn đầu của xung đột Nga – Ukraine, châu Âu nhanh chóng bị cuốn vào cuộc chiến với niềm tin rằng có thể làm Nga suy yếu thông qua viện trợ quy mô lớn dành cho Ukraine. Bên cạnh viện trợ vật chất, châu Âu và NATO còn tham gia đào tạo binh sĩ Ukraine. Thông qua sứ mệnh EUMAM Ukraine của EU, tới hơn 86.000 binh sĩ Ukraine đã được huấn luyện tính đến cuối năm 2025, chủ yếu tại các nước như Đức, Ba Lan, Anh. NATO cũng hỗ trợ thông qua các chương trình huấn luyện chuyên sâu và chia sẻ thông tin tình báo với Ukraine và tăng cường sự hiện diện của khối này ở Đông Âu gần biên giới Nga. Các nước thuộc Liên minh châu Âu liên tục đổ tiền và vũ khí để hỗ trợ Kiev, vừa vì lý do an ninh khu vực vừa vì mục đích chính trị. Tính từ khi chiến sự bùng nổ cho tới nay, tổng viện trợ của châu Âu ước tính từ 200 – 220 tỷ USD, bao gồm hỗ trợ quân sự, tài chính, nhân đạo và chi phí tiếp nhận người tị nạn.
Trong giai đoạn 2022-2023, viện trợ của châu Âu đạt mức cao nhất với tổng cộng khoảng 110 -130 tỷ USD, bao gồm hỗ trợ tài chính, quân sự và nhân đạo. Trong khi đó, Hoa Kỳ hỗ trợ khoảng 100-113 tỷ USD, chủ yếu cho vũ khí và quân sự. Bước sang 2024-2025 với sự kiện tái đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ của Donald Trump, Mỹ từng bước thu hẹp vai trò của mình trong cuộc xung đột, châu Âu từ đó buộc phải tăng cường đầu tư quân sự, mua sắm vũ khí từ Mỹ do kho dự trữ trở nên cạn kiệt trong khi chiến sự vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Trong đó điển hình là các nước đứng đầu khối đứng lên kêu gọi tăng ngân sách chi tiêu quốc phòng theo áp lực “tự gánh vác nhiều hơn” từ Washington. Tuy vậy, viện trợ của châu Âu trong năm 2025 lại ở mức thấp nhất kể từ đầu chiến sự, do năng lực tài chính không đủ sức gánh vác và nội bộ bộc lộ những căng thẳng.

Song song với đó là hàng loạt gói trừng phạt kinh tế nhằm làm suy yếu nước Nga. Các biện pháp trừng phạt tập trung vào năng lượng, ngân hàng và tài sản kỹ thuật số. Đối với kinh tế, giới hạn nghiêm ngặt các dòng vốn và dịch vụ tài chính. Đối với lĩnh vực năng lượng, EU cấm nhập khẩu dầu thô và sản phẩm dầu mỏ bằng đường biển, áp dụng cơ chế áp trần giá dầu Nga và cấm hơn 500 tàu thuộc “hạm đội bóng tối” ra vào cảng của các nước châu Âu. Bên cạnh đó là hàng loạt hạn chế thương mại và công nghệ, từ hàng hóa lưỡng dụng, linh kiện quân sự, công nghệ cao, máy móc, hóa chất cho tới kim cương, nhôm và thép đồng thời cấm máy bay Nga bay vào không phận EU, siết chặt ngoại giao và chống lẩn tránh bằng cách trừng phạt các nước thứ ba. Thậm chí báo chí phương Tây còn mở chiến dịch truyền thông để gây sức ép, gây bất lợi cho Nga.
Thế nhưng có thể thấy sau bốn năm kể từ làn sóng trừng phạt đầu tiên, mục tiêu ban đầu của châu Âu dường như đang đi lệch khỏi kỳ vọng. Dù EU đã áp dụng tới 19 gói trừng phạt chính thức đối với Nga thì hiệu quả thực tế lại không diễn ra như mong đợi. Bất chấp các trừng phạt chéo từ EU, Mỹ và các nước đồng minh, nền kinh tế Nga vẫn chứng tỏ khả năng thích ứng đáng kể. Sau khi GDP giảm khoảng 2,1% vào năm 2022. Nga đã nhanh chóng phục hồi với mức tăng 3,6%-4,1% trong năm 2023, tiếp tục tăng thêm trong năm 2024 và duy trì tăng trưởng 0,6-1,1% trong các quý đầu năm 2025. Không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của các lệnh trừng phạt, đã có thời điểm nền kinh tế nga phải đối mặt với lạm phát cao, đồng rúp biến động và gánh nặng chi tiêu quân sự ngày càng lớn, nhưng Nga đã tái định hướng thương mại sang châu Á, Trung Đông và các nền kinh tế mới nổi, đồng thời xây dựng các kênh thanh toán riêng, logistic và tài chính thay thế để giảm bớt tác động từ phương Tây.
Trong khi đó, chính châu Âu lại đang phải vật lộn với những hệ quả không dễ kiểm soát từ việc liên tục đổ viện trợ cho Ukraine. Việc duy trì viện trợ quân sự, tài chính và nhân đạo quy mô lớn qua các năm đã khiến ngân sách của nhiều quốc gia châu Âu trở nên cạn kiệt. Cùng lúc, giá năng lượng tăng cao do cắt đứt nguồn cung giá rẻ từ Nga và buộc phải nhập khẩu năng lượng từ Mỹ với chi phí đắt đỏ đã kéo theo chi phí sinh hoạt leo thang, tăng trưởng kinh tế chững lại, điển hình là các nền kinh tế trụ cột như Đức và Pháp, tạo ra áp lực lớn đối với xã hội và đời sống của người dân. Gánh nặng kinh tế trong nước và nghĩa vụ phải hỗ trợ bên ngoài đã khiến dư luận ngày càng chia rẽ, buộc các chính phủ phải có chính sách cân bằng giữa cam kết chiến lược với Ukraine và ổn định kinh tế chính trị nội bộ.
Trước sức ép khi phải đối mặt với chi phí sinh hoạt tăng cao và ngân sách ngày càng được chuyển sang quốc phòng để hỗ trợ cuộc chiến tại Ukraine, bất mãn xã hội đã gia tăng tại châu Âu. Biểu tình và phản đối đã diễn ra tại một số quốc gia, đặc biệt là ở Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Ba Lan, Hà Lan,… chủ yếu phản ánh mối lo ngại về tác động kinh tế như việc nhập khẩu nông sản giá rẻ đã ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước và người dân phải chịu mức phí năng lượng tăng cao. Mức độ tín nhiệm dành cho các lãnh đạo chủ chốt ở châu Âu như tại Đức, Pháp, hay Anh cũng đã giảm xuống mức thấp nhất. Trong khi đó những vấn đề nội tại khác như nhập cư, bất ổn xã hội và thâm hụt ngân sách lại tiếp tục tích tụ. Nghịch lý của châu Âu hiện nay là, dù đang phải đối mặt với hàng loạt sức ép trong nước, nhưng chính phủ các nước vẫn phải thuyết phục người dân tiếp tục ủng hộ Ukraine. Bằng truyền thông của mình, các nước phương Tây đã lấy Nga ra làm mối đe dọa để người dân châu Âu lo sợ mà tiếp tục đóng tiền viện trợ cho chiến tranh. Những người cầm quyền tại châu Âu cho rằng họ vẫn kiểm soát được tình hình, nhưng phải nhìn vào thực tế khi người dân châu Âu cũng đang dần nhận ra cái giá phải trả cho cuộc chiến này là bằng chính mạng sống trên chiến trường và ngay trong đời sống sinh hoạt thường ngày của họ.
Sự khó khăn không chỉ đến từ các vấn đề trong nước mà mối quan hệ của các nước trong khối cũng đang gặp trục trặc. Có thể thấy rõ, dưới thời Tổng thống Trump, Mỹ không còn coi lục địa này là ưu tiên hàng đầu như các đời tổng thống khác. Giữa lúc chiến sự còn nhiều vấn đề, Washington lại rút lui, thu hẹp vai trò dẫn dắt của mình, đồng thời yêu cầu các nước EU phải đứng ra gánh vác trách nhiệm, tự tăng chi tiêu quốc phòng và chịu phần lớn các chi phí an ninh. Điều khiến châu Âu lo lắng hơn là họ ngày càng ít có tiếng nói trong các cuộc thảo luận hay đàm phán then chốt khi nhiều quyết định quan trọng được Mỹ xử lý trực tiếp với Nga còn EU chỉ được thông báo sau cùng và bị gạt ra bên lề. Cái bóng của Hoa Kỳ quá lớn để châu Âu có thể thay thế. Với một châu Âu dựa vào chiếc ô của Mỹ suốt nhiều thập kỷ thì sự thay đổi này giống như bị đẩy ra khỏi vùng an toàn, bị bỏ rơi. Cuộc chiến càng kéo dài, những khó khăn nội tại của châu Âu lại càng dần bộc lộ rõ. Những khác biệt về lợi ích quốc gia, về cách tiếp cận với cuộc chiến đang gây ra những bất đồng khiến EU khó duy trì được một lập trường thống nhất như trước. Các tranh luận giữa giới lãnh đạo Brussels và các nước thành viên xuất hiện ngày càng nhiều, thể hiện sự chia rẽ ngày một hiện hữu.

Cụ thể, trong vấn đề viện trợ Ukraine, Thủ tướng Đức Friedrich Merz cho rằng EU cần hành động cứng rắn và quyết liệt hơn, ông đề xuất sử dụng tài sản đóng băng của Nga để hỗ trợ trực tiếp cho Kiev. Tuy nhiên, đề xuất này gặp nhiều trở ngại do không nhận được 100% sự đồng thuận toàn khối. Điều này khiến lập trường của ông Merz không đạt được kỳ vọng. Sự khác biệt nằm ở cách nhìn nhận về quyền lực trong Liên minh châu Âu, trong khi ông Friedrich Merz thiên về mô hình “liên chính phủ” theo đó các quốc gia thành viên giữ vai trò quyết định cao hơn, thay vì trao quá nhiều quyền lực cho Ủy ban châu Âu. Ngược lại bà Ursula Von der Leyen đại diện cho quan điểm củng cố vai trò trung tâm của cơ quan điều hành EU và duy trì cách tiếp cận dựa trên đồng thuận toàn khối. Trước quan điểm này, các quốc gia trong liên minh chia thành hai luồng ý kiến trái ngược. Một bên ủng hộ Thủ tướng Đức, cho rằng lập luận của ông là hợp lý và chính đáng. Trong khi đó, các nước Bắc Âu và vùng Baltic lại đứng về phía Chủ tịch Ủy ban châu Âu, bởi nếu liên minh này rạn nứt, các quốc gia nhỏ bé như họ sẽ mất đi sự bảo vệ và cũng không còn tiếng nói trên trường quốc tế. Sự khác biệt chiến lược giữa Berlin và Brussels vì vậy không chỉ là một cuộc tranh luận cá nhân, mà còn phản ánh thực trạng của toàn khối, khi mà liên minh giờ đây không còn sự gắn kết vững chắc, mà dần trở nên lỏng lẻo, vụn vỡ tựa như một nắm cát rời.
Có thể thấy, sự ảnh hưởng của Mỹ đối với sự mất liên kết của Liên minh châu Âu là một yếu tố không thể bỏ qua trong bối cảnh hiện nay. Mặc dù Mỹ là một đối tác chiến lược quan trọng của EU, những thay đổi trong chính sách đối ngoại và quân sự của Mỹ dưới chính quyền gần đây, cụ thể là dưới thời Tổng thống Donald Trump, đã tạo ra sự bất ổn trong quan hệ giữa hai bên. Việc Mỹ giảm bớt cam kết đối với châu Âu, như rút lui, giảm viện trợ quân sự và chỉ trích các chính sách của EU, đã buộc các quốc gia trong khối liên minh phải tự lực hơn trong việc bảo vệ an ninh và duy trì sức ảnh hưởng toàn cầu. Điều này, tuy nhiên, lại dẫn đến sự mâu thuẫn nội bộ giữa các quốc gia thành viên. Các cường quốc như Đức và Pháp muốn thúc đẩy chính sách đối ngoại độc lập và tăng cường chi tiêu quốc phòng, trong khi các quốc gia Đông Âu và Bắc Âu lại ưu tiên duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ vì lo ngại mối đe dọa từ Nga. Do đó, ảnh hưởng của Mỹ là một yếu tố khiến sự phân hóa trong nội bộ EU ngày càng trầm trọng, thêm bất ổn và thiếu đoàn kết, đặc biệt trong bối cảnh những thách thức lớn từ an ninh và kinh tế đang ngày càng gia tăng.
Như vậy nhìn lại năm 2025, nhiều ý kiến cho rằng châu Âu đang rơi vào giai đoạn khó khăn với những dấu hiệu sa sút về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Châu Âu – nơi từng được xem là trung tâm kinh tế công nghệ và là biểu tượng của dân chủ, nhân quyền trên thế giới giờ đây đang phải chịu sức ép và thách thức lớn hơn bao giờ hết. Quá trình dẫn đến tình trạng này không đột nhiên diễn ra mà là kết quả của một môi trường đầy biến động. Nhìn lại toàn bộ diễn biến, ta có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính tác động mạnh mẽ đến sự lung lay của toàn khối châu Âu hiện nay.
Thứ nhất, châu Âu theo đuổi một cuộc chiến đối đầu với Nga. Từ khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, châu Âu đã chọn đứng về phía Ukraine. EU và nhiều nước châu Âu đã chi hàng trăm tỷ euro để viện trợ tài chính, vũ khí, huấn luyện và hỗ trợ Ukraine về mọi mặt. Song song với đó là triển khai các gói trừng phạt mạnh mẽ nhằm nhằm vào Nga trong mọi lĩnh vực từ kinh tế tài chính, năng lượng và ngoại giao. Điều này đánh dấu sự thay đổi lớn, bởi châu Âu trước đây từng phụ thuộc khá nhiều vào nguồn năng lượng giá rẻ từ Nga. Tuy nhiên, chiến tranh kéo dài đã khiến kế hoạch ban đầu của châu Âu không đạt kỳ vọng. Ngược lại các nước thành viên phải gánh hậu quả nặng nề. Giá năng lượng tăng cao khiến chi phí sản xuất đội lên, nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là Đức và Pháp phải chịu sức ép lớn và xuất hiện nguy cơ suy giảm sức cạnh tranh. Nên kinh tế tăng trưởng chậm lại, thị trường yếu đi dẫn đến lo ngại về tình trạng “phi công nghiệp hóa” dài hạn.
Trong bối cảnh đó, châu Âu cũng phải đối mặt với năng lực quốc phòng có hạn của mình, toàn bộ kho vũ khí trở nên cạn kiệt sau thời gian liên tiếp viện trợ cho Ukraine buộc nước này phải phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ. Trong khi đó, dù chịu các lệnh trừng phạt nhưng Nga vẫn thích nghi được và trong một số giai đoạn còn đạt tăng trưởng dương. Việc mở rộng rộng thị trường năng lượng sang các khu vực khác đã phần nào phục hồi được nền kinh tế bị cấm vận và tiếp tục duy trì nguồn lực cho chiến tranh. Điều này đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý và chính sách của châu Âu. So với trước đây, sức mạnh tổng hợp của châu Âu đang bị bào mòn đáng kể. Từ những diễn biến đó, nhiều nhà quan sát cho rằng chính sách đối đầu kéo dài với Nga không phải là bước đi khôn ngoan khi thay vì làm suy yếu Nga thì chính châu Âu lại phải gánh chịu sự tổn thất lớn. Chính điều này đã khiến nội bộ EU xuất hiện tranh cãi, liệu tiếp tục viện trợ cho Ukraine và thực hiện chiến lược như hiện tại có thực sự hiệu quả hay không.
Thứ hai, châu Âu vẫn phải phụ thuộc nhiều vào Mỹ. Suốt nhiều thập kỷ, Mỹ luôn là nước hỗ trợ châu Âu. Trong vấn đề xung đột Nga – Ukraine, lập trường cứng rắn của châu Âu cũng phần nào gắn với chính sách từ Washington. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, Mỹ tăng cường hỗ trợ Ukraine và củng cố liên minh với châu Âu, nhờ đó Eu có chỗ dựa vững chắc về cả quân sự lẫn tài chính. Tuy nhiên, khi chính quyền Tổng thống Trump trở lại, cách tiếp cận của ông đối với vấn đề đã thay đổi đáng kể. Với khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết của mình” ông hướng sự tập trung nhiều hơn vào Mỹ và châu Âu không còn là ưu tiên. Ông Trump nhiều lần nhấn mạnh châu Âu phải là bên tự lo liệu nhiều hơn cho an ninh của mình, đồng thời yêu cầu các nước NATO phải tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP để có thể mua vũ khí từ Mỹ. Bên cạnh đó một số đề xuất hòa bình hay sáng kiến liên quan đến vấn đề Ukraine dưới thời Trump cũng được tự ý bàn bạc không qua ý kiến của EU. Điều này cho thấy vai trò của châu Âu đã bị Mỹ gạt ra một bên và càng cảm nhận rõ sự phụ thuộc của các nước phương Tây vào Mỹ nhiều đến chừng nào. Có thể thấy khi ưu tiên và cam kết với châu Âu sụt giảm, khối EU đã rơi vào thế bị động, lúng túng, khó tự chủ về các vấn đề an ninh quốc phòng. Điều này đã tác động lớn đến chính sách đối ngoại của toàn khối và còn gây chia rẽ ngay trong nội bộ châu Âu và giữa châu Âu với Mỹ về con đường chiến lược trong tương lai.
Thứ ba, các chính sách xanh và những thay đổi xã hội đang tạo ra nhiều tranh luận tại châu Âu. Trong nhiêu thập kỷ, châu Âu đã là cái nôi của tư tưởng và mô hình phát triển kinh tế xã hội tiến bộ. Tuy nhiên, những năm gần đây, một số chính sách mới đặc biệt là các chính sách liên quan đến chuyển đổi xanh và cải cách xã hội đã gây ra nhiều tranh cãi cũng như tác động phần nào đến đời sống của người dân. Liên minh Châu Âu đang dẫn đầu nỗ lực toàn cầu về biến đổi khí hậu thông qua thỏa thuận Xanh Châu Âu với mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, hay gần đây là bổ sung mục tiêu trung gian giảm 90% khí thải vào năm 2040 nhằm đảm bảo lộ trình chuyển đổi bền vững và công bằng. Những cam kết này không chỉ giúp hạn chế nóng lên toàn cầu mà còn thúc đẩy đổi mới công nghệ xanh và tăng trưởng kinh tế bền vững. Dù đây đều là các định hướng tích cực về môi trường, nhưng trong thực tế nhiều quy định về phát thải và năng lượng đã khiến chi phí sản xuất tăng cao đặc biệt trong nông nghiệp. Điều này đã gây ra áp lực lớn cho nông dân và doanh nghiệp. Một bộ phận nông dân châu Âu đã bày tỏ sự bất bình mạnh mẽ trước các quy định môi trường nghiêm ngặt như hạn chế phân bón, thuốc trừ sâu và phát thải nitơ khiến chi phí tăng cao, sản lượng giảm sút và thu nhập bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những bất mãn này của nông dân đã thổi bùng lên thành các cuộc biểu tình rầm rộ nhiều tháng tại nhiều quốc gia như Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan,.. và tiếp tục lan rộng.

Song song với đó, châu Âu cũng trải qua những thay đổi sâu sắc về văn hóa, lối sống và giá trị xã hội đặc biệt là các vấn đề về bình đẳng giới, đa dạng văn hóa và hội nhập di cư. Những chủ đề này đã tạo ra luồng ý kiến trái chiều gay gắt với một bộ phận người dân lo ngại giá trị truyền thống và đạo đức xã hội từ bao đời bị thách thức trong khi một bộ phận khác lại ủng hộ sự thay đổi. Sự khác biệt quan điểm này đã khiến đời sống chính trị trở nên căng thẳng hơn, tạo ra tranh chấp giữa các đảng phái và làm mức tín nhiệm của nhiều nhà lãnh đạo sụt giảm. Như vậy, các chính sách đối nội của châu Âu hiện chưa thực sự tạo ra được cảm giác ổn định cho người dân phát triển bền vững mà còn góp phần làm xã hội thêm chia rẽ và đặc biệt khó khăn trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine diễn ra.
Cuối cùng, vấn đề di cư tạo sức ép lên xã hội châu Âu. Nhiều nhà quan sát cho rằng các chính sách đối với người di cư của châu Âu đang gặp nhiều thách thức. Trong các năm qua, số người di cư và tị nạn từ Trung Đông, châu Phi và một số khu vực khác tới châu Âu liên tục tăng. Về mặt nhân đạo và kinh tế, chính sách đã bổ sung thêm nguồn lực lao động và thể hiện được trách nhiệm quốc tế của khối. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ và lối sống đã khiến nảy sinh căng thẳng giữa cộng đồng người di cư và người dân bản địa. Cụ thể như một số vụ việc bạo lực và khủng bố rải rác tại các nước như Đức, Pháp, Anh và một số nước Bắc Âu đã khiến dư luận lo ngại về vấn đề an ninh. Nhiều cuộc biểu tình phản đối đòi siết chặt chính sách nhập cư đã diễn ra khiến vấn đề này trở thành chủ đề gay gắt tại châu Âu.
Tóm lại, Châu Âu trong những giai đoạn gần đây đã cho thấy sự sụt giảm uy tín đáng kể. Các nền tảng kinh tế, chính trị và xã hội đều chịu tác động mạnh từ chiến tranh, khủng hoảng năng lượng, tranh chấp nội bộ và những thay đổi sâu rộng trong xã hội liên tục gia tăng. Một số học giả, chính trị gia Mỹ và các nước khác nhận định “nền văn minh châu Âu đang bị bóp chết” và nếu muốn phục hồi thì châu Âu buộc phải tiến hành các cải cách quyết liệt. Ví châu Âu như một cơ thể bị lâm bệnh nặng, các nhà lãnh đạo sẽ buộc phải “giải phẫu” để tìm ra cách chữa trị từ đó giúp cơ thể sớm thích ứng trở lại với thời cuộc và giữ vứng vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của mình trên thế giới.■
Hạ Vân