Chủ tịch Hồ Chí Minh và di sản văn minh vô giá để lại cho dân tộc Việt Nam

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Phương Đông nhìn lại di sản của Người dưới góc nhìn của nền văn minh mà Bác đã kiến tạo cho Việt Nam trong hơn 80 năm qua, cũng là nền tảng để tiếp tục hướng tới mốc kỷ niệm 100 năm lập quốc.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khoảnh khắc ấy thường được ghi nhận như một biến cố chính trị trọng đại, đánh dấu sự cáo chung của chế độ thuộc địa và sự khởi đầu của một nhà nước độc lập. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở cách hiểu đó, chúng ta đã tự giới hạn chiều sâu của sự kiện trong khuôn khổ chuyển giao quyền lực. Thực chất, đó là điểm mở của một tiến trình biến đổi có tính chất cấu trúc, nơi nền tảng tồn tại của dân tộc Việt Nam được tái định nghĩa ở bình diện văn minh.

Một hình thái văn minh không hình thành từ một biến cố đơn lẻ. Nó là kết quả của sự hội tụ giữa ý thức lịch sử, khát vọng dân tộc, điều kiện quốc tế và một hệ tư tưởng đủ sức tái cấu trúc đời sống xã hội. Trong trường hợp Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh đánh dấu sự chuyển đổi từ văn minh sinh tồn – giữ nước sang văn minh giải phóng, kiến tạo con người và tự chủ hiện đại. Sự chuyển đổi này không chỉ thay đổi địa vị quốc gia trên bản đồ chính trị thế giới mà còn thay đổi cách con người Việt Nam hiểu về chính mình, về quyền lực, về tự do, độc lập và về tương lai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào Nam Định về nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói, tháng 1/1946. Ảnh: Sưu tầm của nhà sử học Pháp Philippe Devillers.

Để khẳng định rằng thời đại Hồ Chí Minh là một hình thái văn minh mới, cần đặt vấn đề trên nền tảng lý luận nghiêm cẩn. Văn minh không đồng nhất với mức độ phát triển kinh tế hay sự hiện diện của công nghệ cao. Văn minh trước hết là một cấu trúc giá trị tinh thần và một hệ hình tổ chức xã hội. Nó bao gồm hệ giá trị trung tâm, mẫu hình con người lý tưởng, thiết chế chính trị, quan niệm về quyền lực và tầm nhìn về tương lai. Khi những yếu tố này thay đổi ở mức căn bản, ta chứng kiến một bước nhảy văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1945 đã kiến tạo một một bước nhảy như thế cho Việt Nam.

Tư tưởng kiến tạo văn minh cho Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết bắt nguồn sâu xa từ truyền thống dân tộc Việt Nam: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập tự cường, tinh thần nhân nghĩa, khoan dung, trọng dân và khát vọng dựng xây một xã hội hòa hợp. Chính từ nền tảng văn hóa ấy, Người đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của thời đại để hình thành một hệ tư tưởng phát triển vừa thấm đẫm bản sắc dân tộc, vừa mang tầm vóc hiện đại. Trong đó, ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là học thuyết tiến bộ, đặt mục tiêu giải phóng con người khỏi áp bức, giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ, đồng thời hướng tới kiến tạo một xã hội công bằng, nơi con người được phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, biến nó thành kim chỉ nam cho con đường cách mạng, cho sự hình thành mẫu hình con người mới và cho định hướng phát triển của đất nước. Từ đó, Người mở đường cho  hình thái văn minh Việt Nam mới, đồng thời góp phần vào khát vọng tiến bộ chung của nhân loại.

Văn minh truyền thống Việt Nam: cấu trúc sinh tồn và giới hạn lịch sử

Trước thời đại Hồ Chí Minh, văn minh Việt Nam chủ yếu mang tính chất sinh tồn. Địa chính trị đặc thù của đất nước, nằm ở giao điểm giữa các trung tâm quyền lực lớn của châu Á, khiến cho mục tiêu hàng đầu của cộng đồng dân tộc là bảo toàn lãnh thổ và duy trì bản sắc. Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc và gần một nghìn năm phong kiến độc lập, tư tưởng chủ đạo của nhà nước và xã hội là giữ nước. Trật tự chính trị dựa trên mô hình quân chủ tập quyền, với hệ giá trị Nho giáo làm nền tảng đạo lý.

Trong cấu trúc Nho giáo ấy, con người tồn tại trước hết với tư cách thần dân của một quốc gia phong kiến. Quyền lực được hình thành từ trên xuống. Nghĩa vụ được đặt lên trên quyền lợi. Cộng đồng làng xã là đơn vị sinh tồn cơ bản, nhưng không phải là chủ thể chính trị theo nghĩa hiện đại. Văn minh ấy có khả năng bảo vệ độc lập, tạo nên những kỳ tích chống ngoại xâm và duy trì sự liên tục văn hóa, song nó không tạo ra khái niệm phổ quát về quyền con người, cũng không thiết lập được mô hình công dân tự chủ.

Khi chủ nghĩa thực dân xuất hiện, cấu trúc sinh tồn ấy lộ rõ giới hạn. Nhà nước phong kiến suy yếu không chỉ vì sức mạnh quân sự của ngoại bang mà còn vì sự thiếu hụt một nền tảng tư tưởng đủ khả năng tái cấu trúc xã hội theo yêu cầu thời đại. Lịch sử bước vào khủng hoảng. Câu hỏi về con đường giải phóng dân tộc đồng thời là câu hỏi về tương lai văn minh của Việt Nam.

Văn minh giải phóng: nền tảng của hình thái mới

Thời đại Hồ Chí Minh mở ra trước hết bằng nỗ lực giải phóng. Giải phóng ở đây không chỉ mang nghĩa quân sự hay chính trị mà còn là sự giải phóng ý thức. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không đơn thuần là tuyên bố chấm dứt chế độ thuộc địa; nó đặt quyền con người làm nền tảng chính danh của quốc gia. Việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp không chỉ là chiến lược ngoại giao mà là sự khẳng định một nguyên lý phổ quát: mọi dân tộc và mọi con người đều có quyền tự do và bình đẳng.

Ở đây diễn ra một chuyển đổi nhân học chính trị. Con người Việt Nam không còn được định nghĩa chủ yếu bằng vị trí trong trật tự truyền thống mà bằng quyền làm chủ vận mệnh quốc gia. Dân tộc từ đối tượng bị trị trở thành chủ thể lịch sử. Sự xuất hiện của nhà nước mới không chỉ xóa bỏ một chế độ mà tạo ra một hình dung khác về cộng đồng chính trị, nơi quyền lực bắt nguồn từ nhân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh mở ra trước hết bằng nỗ lực giải phóng, đặt con người vào vị trí trung tâm của lịch sử đất nước. Hình ảnh cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khoá I ngày 6/1/1946. Ảnh: TTXVN

Văn minh giải phóng vì thế là nền tảng của hình thái văn minh mới. Nó phá vỡ cấu trúc lệ thuộc, đồng thời đặt con người vào vị trí trung tâm của lịch sử đất nước. Từ đây, mọi thiết chế chính trị và xã hội phải được định hình bằng lợi ích và phẩm giá của nhân dân.

Văn minh kiến tạo con người: tái cấu trúc nội tâm xã hội

Nếu giải phóng là điều kiện tiên quyết, thì kiến tạo con người là nội dung cốt lõi của văn minh mới. Một nền văn minh không thể chỉ tồn tại bằng khẩu hiệu, nó phải hình thành một mẫu hình con người phù hợp với lý tưởng mà nó theo đuổi. Thời đại Hồ Chí Minh xác lập hình tượng con người mới – con người có lý tưởng, có ý thức tập thể, có trách nhiệm với cộng đồng và có khát vọng vươn lên.

Giáo dục trở thành công cụ căn bản của tiến trình kiến tạo ấy. Phong trào Bình dân học vụ ngay sau 1945 thể hiện ý thức rằng một dân tộc mù chữ không thể là một dân tộc tự do. Sự phổ cập tri thức không chỉ nâng cao năng lực cá nhân mà còn tạo ra cơ sở cho một nền quản trị hiện đại. Văn minh mới không dựa trên huyết thống hay đặc quyền mà dựa trên tri thức và năng lực.

Ở bình diện sâu hơn, văn minh kiến tạo con người còn là sự tái cấu trúc đạo đức xã hội. Đạo đức cách mạng không phải là sự phủ định truyền thống mà là sự chuyển hóa nó trong điều kiện mới. Tinh thần yêu nước truyền thống được mở rộng thành lý tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội công bằng. Sự hy sinh cá nhân không còn chỉ gắn với lòng trung quân mà gắn với lợi ích của nhân dân và tương lai quốc gia.

Văn minh tự chủ hiện đại: từ độc lập đến phát triển

Một nền văn minh chỉ thực sự hoàn chỉnh khi nó có khả năng độc lập tự chủ trong phát triển. Tự chủ ở đây không dừng ở độc lập chính trị mà bao gồm quyền lựa chọn mô hình phát triển và khả năng hội nhập bình đẳng với thế giới. Sau những cuộc chiến tranh kéo dài, Việt Nam ý thức hơn bao giờ hết giá trị độc lập. Trong thời kỳ hậu chiến, đứng trước thách thức tái thiết và phát triển trong điều kiện quốc tế phức tạp, công cuộc Đổi mới năm 1986 đánh dấu một bước điều chỉnh chiến lược quan trọng, mở ra giai đoạn hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu.

Sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế tạo nên một đặc trưng của văn minh tự chủ hiện đại. Việt Nam không khép kín trong tự cung tự cấp, nhưng cũng không hòa tan vào quỹ đạo của bất kỳ cường quốc nào. Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại phản ánh nỗ lực duy trì chủ quyền chiến lược trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau.

Hướng tới năm 2045, mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là sự khẳng định tầm vóc văn minh. Hình minh họa

Độc lập tự chủ hiện đại còn bao hàm khát vọng phát triển tri thức, công nghệ và văn hóa. Một quốc gia muốn bền vững trong thế kỷ XXI phải làm chủ khoa học và đổi mới sáng tạo. Hướng tới năm 2045, mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà là sự khẳng định tầm vóc văn minh. Nó đòi hỏi năng lực quản trị minh bạch, xã hội pháp quyền vững mạnh và một nền văn hóa sáng tạo.

Kết luận về ý nghĩa của bước nhảy văn minh 1945 – 2045

Khi nhìn lại tiến trình từ 1945 đến nay, có thể thấy sự vận động liên tục của hình thái văn minh mới. Văn minh sinh tồn của quá khứ đặt câu hỏi làm thế nào để tồn tại; văn minh thời đại Hồ Chí Minh đặt câu hỏi làm thế nào để kiến tạo tương lai. Sự thay đổi câu hỏi ấy phản ánh sự trưởng thành của ý thức dân tộc.

Hướng tới kỷ niệm 100 năm lập quốc vào năm 2045, việc nhận diện thời đại Hồ Chí Minh như một hình thái văn minh mới không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn mang tính định hướng chiến lược. Nó giúp chúng ta hiểu rằng độc lập không phải là đích đến cuối cùng, mà là điều kiện cho một tiến trình dài hơn của phát triển con người và nâng cao phẩm giá dân tộc. Nếu văn minh giải phóng là nền móng, thì văn minh kiến tạo và tự chủ hiện đại là những tầng cao cần tiếp tục xây dựng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đường cho một thời đại mang tên Người. Thời đại Hồ Chí Minh đã thiết lập một hệ hình văn minh mới cho Việt Nam. Hệ hình ấy dựa trên ba trụ cột: giải phóng, kiến tạo con người và độc lập tự chủ. Chúng ta phải tiếp tục ba trụ cột này trong kỷ nguyên mới. Sự tồn tại và phát triển của hình thái văn minh này sẽ quyết định vị thế của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Nền văn minh với những trụ cột trên chính là chiều sâu nhận thức và ý nghĩa thực sự của dấu mốc 100 năm lập quốc, là di sản vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta.■

Nguyễn Văn Hưởng

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN