Hành chính An Nam thế kỷ XIX dưới góc nhìn của người Pháp

Từ góc nhìn của nhiều học giả và nhân chứng phương Tây đầu thế kỷ XX, người An Nam hiện lên qua những lát cắt vừa quen thuộc vừa mới lạ. Sau bài viết về thể chế nước ta hơn 100 năm trước, Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu phần tiếp theo trong cuốn L’Indochine d’autrefois et aujourd’hui (Đông Dương xưa và nay) xuất bản năm 1934 của tác giả J.B. Alberti với một vài nhận xét về hành chính nước ta cuối thế kỷ XIX. Các chi tiết và từ ngữ trong bài thể hiện quan điểm của tác giả, chúng tôi giữ nguyên văn để đảm bảo tính khách quan.

Trong pháp luật An Nam, người ta có thể phê phán khi nhắc tới chế độ nô lệ, chế độ đa thê, các hình phạt thân thể, những hình thức tra tấn ghê rợn, cũng như thừa nhận quyền cho người cha lập chúc thư – tức là người cha được toàn quyền định đoạt tài sản của mình kể cả việc đó gây bất lợi cho con cái. Ngoài ra, các pháp quan còn có nghĩa vụ không được để lọt những hành vi chưa được luật dự tính; từ đó trao cho họ quyền lực quá mức, không giống như nguyên tắc “nếu không có luật thì không có hình phạt” mà các nền lập pháp phương Tây thừa nhận.

Tuy nhiên, người ta buộc phải công nhận rằng, xét về tổng thể, hệ thống luật pháp này phù hợp với tâm lý cư dân – những người mà bộ luật điều chỉnh, cũng như với môi trường vận hành các điều luật ấy.

Bộ máy cai trị được tổ chức tinh vi gần như không kém gì các chính quyền phương Tây. Nền tư pháp dân sự có những nét độc đáo và rất công bằng. Hệ thống xét xử miễn phí tỏ rõ tính vượt trội so với thủ tục tố tụng của chúng ta mà những lần chậm trễ kéo dài vô tận và các khoản chi phí khổng lồ có thể nuốt chửng cả gia sản trước khi vụ kiện kết thúc.

Một viên quan ở Cao Bằng những năm 1920 đang xử án. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương

Tuy vậy, những người châu Âu từng đến An Nam trước hay sau khi Pháp can thiệp đều đồng thanh thừa nhận người dân bị cai trị theo hướng tệ bạc.

Năm 1750, Pierre Poivre đã viết: “Các quan lại tham nhũng và làm điều đó mà không bị trừng phạt. Lòng tham của họ lớn đến mức họ thậm chí không buồn giữ thể diện. Quan lại tham nhũng một cách thô thiển, nhưng lại cho rằng đó là dấu hiệu của một nền giáo dục ưu tú…”

Trong tác phẩm “Tường thuật về Bắc Kỳ và Nam Kỳ”, ông De la Bissachère (1764 – 1830) kể lại:

“Lòng tham quá mức của các quan lại, cùng với sự bóc lột của đám tay sai khiến những luật lệ cũng trở thành vô ích, thậm chí có hại vì chỉ làm các thủ tục ngày một nhân lên và kéo dài. Để có thêm tiền từ các bên đương sự, họ khiến cả nguyên đơn và bị đơn đều hy vọng vào một phán quyết có lợi, và không bao giờ đưa ra quyết định cuối cùng chừng nào thấy còn có thể vắt thêm chút gì đó từ người khởi kiện.

Từ việc tiêu cực ấy lại sinh ra một điều tốt: nỗi sợ bị đánh roi mây, sợ mất thời gian và tiền bạc đã ngăn cản rất nhiều người đi kiện. Sau khi viên quan xét xử không minh bạch bị chém đầu, người kế nhiệm của ông ta vẫn tiếp tục như vậy, đôi khi thậm chí còn tệ hơn, và rồi sau cùng người ta cũng đành phải chấp nhận tình trạng ấy”.

Trong tác phẩm “Đông Dương: Bắc Kỳ”, ông Gourou nhận định rằng, dưới vẻ ngoài là một bộ máy tổ chức hợp lý thì nền hành chính quan lại thực tế chậm chạp, thủ tục nặng nề, thiếu trung thực và kém hiệu quả. Chứng minh cho quan điểm của mình, ông nêu ra những sự việc sau:

“Các trạm thuế quan cấp tỉnh – vốn là nguồn thu không thể thiếu, đã biến thành trở ngại đối với thương mại. Năm 1876, hàng hóa vận chuyển giữa Hà Nội và Lào Cai phải đi qua ba trạm thuế, mỗi trạm thu 2,5% với mọi loại hàng hóa và 10% đối với muối. Năm 1876, tại Bảo Hà, muối chịu mức thuế 20%.

Việc thiếu những tuyến giao thông tốt đã khiến chính quyền áp đặt những nghĩa vụ lao dịch hết sức nặng nề lên người dân khi cần thực hiện những cuộc vận chuyển lớn. Những người làm lao dịch được tuyển từ các làng mạc cách địa điểm tập trung 2 – 3 ngày đường, phải trình diện để nhận phần việc của mình. Người ta chuyển cho họ một phương gạo (khoảng 30 cân) mà họ phải chịu trách nhiệm giao nguyên vẹn tới Bắc Kạn. Đối với người nông dân cách điểm tập trung ở tỉnh lỵ khoảng một ngày đường, chuyến giao hàng này kéo dài ít nhất 13 ngày: một ngày lên tỉnh, một ngày nhận gạo từ kho, 4 ngày đường đi tới Bắc Kạn, hai ngày để giao hàng và nghỉ ngơi đôi chút, thêm 5 ngày nữa để trở về làng. Đổi lại, người ta trả công 12 hào (chưa tới 2 xu) cùng 2 bát gạo cho mỗi ngày, nhưng tiền công chỉ được trả cho 10 ngày, những ngày còn lại họ phải tự lo ăn uống. Hơn nữa, có lẽ họ không được ăn hết số gạo nhà nước cấp, vì có thể họ phải dùng một phần từ số gạo ấy bù cho thiếu hụt nếu chẳng may hàng hóa thất lạc dọc đường. Chưa hết, các viên quan phụ trách giao nhận gạo còn giữ chân những người lao dịch với đủ lý do cho đến khi những người này biếu họ một món quà nhỏ. Họ không đòi hỏi nhiều, 10 xu hay thậm chí 5 xu cũng đủ, nhưng số người được huy động đi khuân vác rất đông, nên tổng số tiền thu được vẫn là một khoản đáng kể”. Ví dụ này cho thấy rõ sự cồng kềnh của nền hành chính bản xứ và tính mua chuộc, tham nhũng đã xuất hiện ngay từ những cấp thấp nhất của hệ thống.

Một nhóm phu phen người An Nam cuối thế kỷ XIX. Ảnh chụp bởi Aurélien Pestel

Những ví dụ khác còn cho thấy rõ ràng hơn nữa, chẳng hạn các vị quan ở cấp cao hơn cấm một hoạt động buôn bán (như buôn gạo), rồi lại bắt dùng tiền để được cấp giấy miễn trừ.

Trong một bức thư đề ngày 16/4/1878, viên lãnh sự Pháp tại Hải Phòng cho biết rằng các quan tỉnh, “vào lúc giá gạo lên cao, họ bán số gạo thu từ việc nộp thuế; sau đó họ xin triều đình ban lệnh cấm xuất thóc để giá hạ xuống rồi mua vào số lượng cần thiết với giá rẻ để bù lại kho dự trữ theo quy định”.

Việc vận chuyển gạo thuế về Huế cũng kèm theo nhiều hành vi gian lận: trung bình mỗi năm có khoảng 700.000 đảm (mỗi đảm tương đương 60 cân) cần vận chuyển; tiền vận chuyển được trả bằng hiện vật, khoảng 25, 28, 30, thậm chí 32% số gạo chở đi. “Trung bình một năm triều đình Huế mất hơn 50% số thuế – tính cả chi phí vận chuyển và các tổn thất do hư hỏng, đắm tàu, lãng phí, trộm cắp. Nếu sử dụng tàu châu Âu, chi phí sẽ không vượt quá 25%, đã bao gồm bảo hiểm. Nhưng các quan lại chịu trách nhiệm gửi và nhận gạo sẽ chẳng thu lợi gì từ cải cách ấy”.

Một ví dụ khác đặc biệt đáng chú ý:

“Các quan thu thuế đã thừa nhận với tôi hôm qua, bằng một vẻ ngây thơ mà hơi pha chút trơ trẽn, rằng họ đã xin triều đình cho phép thay vì trả bằng hiện vật như quy định thì trả cho các viên chức nhỏ tiền mặt ứng với phần gạo. Họ nêu lý do rằng kho lương của nhà nước đã cạn vì phải gửi gạo đi Tourane và Huế, điều này không chính xác. Rồi họ định giá khẩu phần ấy là 4 quan 5 tiền, trong khi giá thực tế phải hơn 8 quan. Tôi đoán rằng họ sẽ bí mật bán phần gạo thuế cho các thương nhân Hoa kiều để hưởng chênh lệch giữa giá trị gạo thực tế và số tiền mà họ chi trả. Tôi không thể không cảm thán với các quan rằng chắc chắn một ngày nào đó họ sẽ đẩy dân đến bước đường đồng loạt nổi dậy. Nhận xét ấy làm họ bật cười”.

Về phần mình, trong tác phẩm “Hà Nội trong thời kỳ anh hùng 1873 – 1887, ông Masson thuật lại những sự việc sau đây:

“Cứ 5 ngày một, những người ăn xin trong thành phố và các vùng phụ cận, đông như một đạo quân thực thụ, tụ tập trước cổng Văn Miếu. Người ta cho từng người một vào, họ được phát một phần gạo xay nhỏ, khoảng nửa cân. Sau khi phát xong, cả 9 cổng thành được mở cùng lúc để đám đông đi ra. Phần lương thực ít ỏi, cơ bản chỉ đủ cho một ngày ấy chỉ được cấp cho phụ nữ, trẻ em, người già và người tàn tật. Những người đàn ông không có khả năng lao động thì binh lính gạt ra. Dù đã loại trừ nghiêm ngặt, vẫn có đến 22.000 người đến nhận trong đợt phát gạo gần nhất. Chỉ riêng con số ấy cũng đủ cho thấy mức độ khốn khổ mà Hà Nội đang phơi bày trước mắt chúng ta”.

Với mức độ tiết chế nhất định trong lời văn, những dòng trên đã nói lên rất nhiều về đau khổ mà người dân Bắc Kỳ phải chịu đựng. Trong khi vô số người chết đói ở Hà Nội, thì gạo ở các tỉnh khác lại dư thừa. Tuy nhiên, việc lưu thông lúa gạo bị nghiêm cấm tuyệt đối.

Khi nghiên cứu nguyên nhân nạn đói, viên lãnh sự của chúng ta viết trong bản báo cáo ngày 18/6/1880 rằng: “Lý tưởng của viên tổng đốc tỉnh là làm sao để giá sinh hoạt trong tỉnh mình rẻ trong khi giá ở các tỉnh láng giềng tăng cao. Viên quan coi đó là dấu hiệu của một nền cai trị tốt, một nền cai trị mang tính phụ mẫu. Những suy nghĩ ấy đã ăn sâu vào phong tục của xứ sở này, vốn dựa trên những châm ngôn cổ xưa như chính nền văn minh tại Trung Hoa, và có lẽ sẽ tồn tại chừng nào chính quyền quan lại còn tồn tại”.

Một nền hành chính như vậy thì thật khó mà bền vững. Một vị quan đại thần khi gặp lãnh sự Pháp tại Hà Nội năm 1875 đã nói rằng: “Vương quốc này như một căn nhà sắp sụp, các mối nối đã rời rạc, chỉ cần đẩy nhẹ là đổ”.

Dân chúng hầu như chẳng gắn bó gì với nền hành chính ấy. Sự việc sau đây cho thấy rõ điều đó: “Gần đây, cả xứ xôn xao vì sao chổi xuất hiện, hiện ở đường chân trời vài ngày. Ai cũng nhắc rằng hiện tượng tương tự đã xảy ra ở Sài Gòn hai tháng trước khi người Pháp đến. Tôi nhận thấy dân chúng nhìn hiện tượng ấy với thái độ bình thản, tỏ ra tò mò nhiều hơn là sợ hãi”.

Từ nhận xét này, thật thú vị khi liên hệ tới bức thư của Thống chế Lyautey thuật lại cuộc trò chuyện của mình với nhà truyền giáo cao tuổi nhất – cha Dumoulin, người từng tháp tùng Giám mục Puginier đến Hà Nội năm 1873: “Ông kể lại cho tôi sự đón tiếp vừa ngạc nhiên vừa thân thiện mà người dân Hà Nội dành cho quân đội chúng ta. Họ đứng chen chúc, đông đúc như ngày hội, đi theo bước chân những người lính của chúng ta đang tiến về phía thành lũy như đang dự một cuộc dã ngoại.

Vì sao nền hành chính của An Nam lại tồn tại nhiều hành vi lạm quyền đến thế?

Những quan lại có nhiệm vụ quản lý và xét xử được tuyển chọn qua thi cử, từ những người dân. Thông thường, sau khi từng làm thầy đồ và đã được dân yêu mến, họ được bổ nhiệm đứng đầu địa hạt. Khi đó, họ trở thành tri phủ hoặc tri huyện ngay tại vùng họ từng giảng dạy hoặc có uy tín tốt. Dù họ không nắm được những kiến thức về khoa học thực tiễn có thể giúp phát triển nông nghiệp, thương mại và công nghiệp – nghĩa là thúc đẩy sự tiến bộ của đất nước, mà điều này là một thiếu hụt gắn liền với nền văn minh của họ; thì bù lại, họ am hiểu đạo đức, triết học, luật pháp, văn chương, lịch sử và trên hết là nhu cầu của người dân.

Mặt khác, nghĩa vụ của quan lại được quy định rõ ràng và pháp luật cũng đặt ra những rào cản ngăn ngừa các hành vi lạm quyền đầy cám dỗ mà họ có thể phạm phải. Thật vậy, về nguyên tắc, các cấp trên xem xét lại tất cả những hành vi của quan lại, những việc quan trọng nhất còn do triều đình hay chính nhà vua xét duyệt, và bất cứ thần dân nào cũng có quyền khiếu nại trực tiếp lên nhà vua. Ngoài ra còn có các tổng thanh tra phụ trách kiểm soát hành chính ở các tỉnh.

Vậy thì trong điều kiện như thế, vì sao lạm quyền vẫn xảy ra, thậm chí là trở nên phổ biến?

Nguyên nhân đầu tiên được tìm thấy trong sự yếu đuối của con người. Các quan lại dễ bị cám dỗ vì họ gần như chắc chắn sẽ không bị trừng phạt nếu lạm quyền. Ở An Nam, thực chất việc kiểm soát không tồn tại nghiêm ngặt. Để một bộ máy tập trung quyền lực mạnh mẽ như nền hành chính An Nam vận hành vì lợi ích của dân chúng, lẽ ra nhà vua phải đích thân và liên tục dành toàn bộ tâm sức cho việc điều hành. Nhưng phần lớn các vị vua đều bận rộn với triều chính và hậu cung, đã giao phó công việc đất nước cho các bộ và nha sở – những cơ quan do các quan lại điều hành. Vì thế, sự kiểm soát theo cấp bậc, hay việc quan lại giám sát lẫn nhau, nhanh chóng trở nên hình thức. Chẳng có động lực điều chỉnh nào và cũng chẳng chịu sự kiểm soát mang tính hiệu quả, các quan lại địa phương tự mình hành động. Chẳng bao lâu, cấp trên chỉ biết về tình hình các địa hạt là những gì cấp dưới muốn đưa vào báo cáo. Than ôi!

Người ta từng nói rằng ở An Nam, về nguyên tắc thì sự bình đẳng có tồn tại, nhưng lại chẳng thấy thứ nào có khả năng biến nó thành hiện thực. Tư tưởng phụ thuộc hoàn toàn vào lợi ích của nhà nước, do đó, triều đình không cho phép dân chúng có bất kỳ sáng kiến nào bộc lộ xu hướng cá nhân về mặt trí tuệ. Dân chúng lẽ ra có thể có báo chí, bởi nghề in đã xuất hiện ở An Nam từ lâu, nhưng mọi nỗ lực sử dụng nó đều bị đàn áp không thương tiếc. Luật pháp cũng cấm chỉ trích chính quyền và những người đại diện cho nó. Quan lại là đại diện của hoàng đế, phê phán họ tức là chỉ trích nhà vua. Mà ngay cả việc dùng tên hoàng đế cũng bị cấm, vi phạm điều này là xúc phạm đến điều thiêng liêng và cần phải trừng phạt nghiêm khắc.

Liệu người dân có dám, ít nhất là tâu lên nhà Vua về những hành vi lạm quyền của một viên quan không? Nhân dân hoàn toàn biết rằng tình trạng này bắt nguồn từ cấp trên, và rằng nếu một đơn khiếu nại bị xét là không có cơ sở thì người đâm đơn kiện sẽ nhận trừng phạt. Hơn nữa, họ còn e ngại sự trả thù của những viên quan mà họ tố cáo lên triều đình. Trong đa phần các trường hợp, họ đều sẽ chọn im lặng.

Các tổng thanh tra có thể sẽ về các tỉnh, nhưng họ sẽ thấy gì, biết được gì? Dân chúng cũng chẳng có can đảm để nói với những “sứ giả” ấy so với việc nói thẳng với nhà Vua hơn là bao. Như vậy, nguyên tắc quyền lực đã bị đẩy tới mức thái quá, đến nỗi các quan lại gần như trở thành những lãnh chúa độc lập, còn người dân thì hết sức phục tùng. Như ông Luro đã viết: “Một nền trung ương tập quyền không giới hạn đã thủ tiêu sáng kiến cá nhân, dẫn đến việc tinh thần chung suy bại, rồi đến việc lạm dụng chủ nghĩa quan liêu và quyền lực lộng quyền tuyệt đối”. Do vậy, nhân dân buộc phải chịu đựng hành động của các quan lại, dù tốt dù xấu, cho đến ngày tai họa lan rộng và họ nổi dậy tuyên bố hoàng đế đã đánh mất Thiên mệnh, cùng với đó là ngai vàng của mình.

Ngoài ra, các quan lại còn có xu hướng lạm quyền vì họ không được trả lương tương xứng. Xuất phát từ quan niệm rằng: “Nhà nho, người theo đạo Khổng Tử, được gọi ra làm quan vì là người khôn ngoan, xứng đáng và có đạo đức nhất trong cộng đồng, đang thực hiện chức phận mang tính tôn giáo, nên trong việc thi hành công vụ, phải thể hiện tinh thần khước từ của cải và yêu chuộng đức hạnh hơn quyền lực”; triều đình đã coi việc không trả lương thỏa đáng cho các quan lại là điều hoàn toàn tự nhiên.

Chân dung viên Tổng đốc Hà Nội và đoàn tuỳ tùng trong dịp lễ ngày 14/7/1884. Ảnh chụp bởi Chales Edouard Hocquard.

Vì vậy, một Tổng đốc chỉ nhận được 25 franc tiền lương mỗi tháng, cùng với một vài khẩu phần đủ để nuôi bản thân và gia đình. Ngoài ra, ông ta được cấp thêm một bộ triều phục. Một tri huyện nhận 3 franc và khoảng từ 5 – 7 yến gạo mỗi tháng cho cả gia đình. Việc các chức quan này gần như không được trả công đã tạo thói quen đưa tiền “lót tay” và quà biếu cho các quan lại. Người dân đã quen với điều đó và thậm chí còn dùng cách gọi như ngầm thừa nhận: tiền thù lao của một viên quan được gọi là “bổng lộc”, trong đó “bổng” là lương chính thức, “lộc” là khoản thu nhập phụ. Chính từ đây mà tiếng xấu về tính tham nhũng của các quan lại xuất hiện. Chừng nào một viên quan còn hài lòng với khoản “lộc” theo thông lệ thì mọi việc vẫn diễn ra bình thường, nhưng ngay khi ông ta đòi hỏi quá mức thường ngày, lòng bất mãn của dân chúng sẽ bùng lên.■

Jean Baptiste Alberti

Lê Hằng Nga (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN