Dưới thời Pháp thuộc, giai cấp tư sản Việt Nam gặp phải rất nhiều khó khăn trong kinh doanh do những chính sách độc quyền và sự chèn ép, bóc lộc của chính quyền thực dân. Tuy nhiên, nhiều doanh nhân vẫn thể hiện mạnh mẽ tinh thần tự cường, ý thức dân tộc và khát vọng xây dựng nền kinh tế của người Việt. Không ít người trong số họ đã đạt được những thành công đáng kể, tiêu biểu như các ông Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trương Văn Bền… Tạp chí Phương Đông giới thiệu tới bạn đọc bài viết đăng trên Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 4 (tháng 1/1955), phác họa hoạt động của tầng lớp tư sản dân tộc nước ta trong những thập niên đầu thế kỷ XX.
1. Tình hình công thương nghiệp dân tộc ở Việt Nam trước Đại chiến thứ nhất
Sau khi dùng vũ lực để đặt nền thống trị ở Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành vơ vét bằng cách chiếm đoạt hầm mỏ, lấy nguyên liệu, đem hàng hóa từ Pháp sang bán ở Việt Nam, mở nhà máy bóc lột nhân công và đầu tư. Đời sống của những nhà buôn và tiểu công nghệ Việt Nam bị đe dọa vì hàng hóa Pháp chèn ép. Họ cần phải đoàn kết chống lại những hoạt động của thực dân Pháp. Giữa lúc ấy, phong trào duy tân ở Trung Quốc, Nhật Bản cùng học thuyết tư sản phương Tây tràn qua Trung Quốc vào Việt Nam, càng thúc đẩy lớp sĩ phu tiến bộ, đồng thời cũng là những nhà buôn ở các thành thị, hấp thụ được tư tưởng tư sản ở ngoài vào, chủ trương mở mang kinh doanh có tổ chức.

Năm 1907, cuộc vận động duy tân ra đời do những sĩ phu cấp tiến ấy lãnh đạo. Nhiều nhà buôn hô hào lập hội kinh doanh. Ở Hà Nội, năm 1908, có hiệu Đồng Lợi Tế bán các hàng nội hóa, Hồng Tân Hưng làm đồ sơn, Quảng Hưng Long do nhiều nhà buôn hùn vốn, Đông Thành Hưng do các nhà nho Nguyễn Quyền và Hoàng Tăng Bí quản lý. Ở Nghệ An có Triêu Dương thương quán do cụ Ngô Đức Kế mở. Ở Quảng Nam có Quảng Nam Hiệp thương Công ty phát triển từ năm 1906-1907, vốn ước chừng 20 vạn đồng. Công ty mua các lâm thổ sản ở nông thôn đem đi Hà Nội, Sài Gòn, Hồng Kông bán, rồi lại mua hàng ở các nơi đó về. Ngoài chủ trương lập hội buôn bán, còn có chủ trương thúc đẩy sản xuất. Nhiều nhà nho hỏng thi đã rủ nhau mở hiệu buôn các quần áo cũ, làm mũ, mua máy khâu, máy dệt vải khổ rộng. Bị hàng hóa Pháp lấn át, họ hô hào dùng nội hóa, bài trừ ngoại hóa. Mặt khác, do ảnh hưởng tư tưởng tư sản, họ còn chống đối những phong tục phong kiến, hô hào cắt tóc ngắn, tẩy trừ áo lam, bài ngà, khuyến khích mở trường dạy học, xuất bản báo chí để tuyên truyền cải cách.
Nhưng những nhà công thương nghiệp dân tộc lúc bấy giờ phần thì còn non yếu lại phải đương đầu ngay với chính sách chèn ép của thực dân, nên nói chung thì phong trào lập hội kinh doanh và phong trào cải cách đến 1910 bắt đầu xuống. Tuy vậy, những kinh doanh đó đã gây cơ sở cho thương nghiệp dân tộc phát triển một phần nào trong Đại chiến thứ nhất.
2. Tình hình công thương nghiệp Việt Nam trong Đại chiến thứ nhất
Đại chiến thứ nhất bùng nổ. Thực dân Pháp lúng túng ở Việt Nam. Việc khai thác nguyên liệu phải ngừng lại. Hàng hóa ở bên Pháp không chở sang Việt Nam được. Nhân dịp này, những nhà công thương nghiệp Việt Nam bỏ vốn kinh doanh và ngày càng phát đạt. Họ lập ra nhiều công ty chung vốn, nhiều xưởng thợ; họ nắm được một số phương tiện vận tải. Nguyễn Hữu Thu tức Sen, chủ hãng xe cao su ở Hải Phòng từ năm 1906-1907, tiến lên trở thành chủ hãng tàu thủy chạy Hồng Kông trong những năm đại chiến. Công ty buôn bán Liên Thành ở Phan Thiết thành lập từ 1908 mở thêm hai chi điếm lớn: một ở Sài Gòn, một ở Hội An xuất cảng đường, quế, tơ… Ở Hà Nội đã có nhà máy in của Ngô Tử Hạ, Lê Văn Phúc. Ở Huế có nhà máy in của Bùi Huy Tín. Năm 1917, ông Nguyễn Sơn Hà bắt đầu mở xưởng chế sơn ở Hải Phòng. Ở Thanh Trì có những lò bát lớn. Rất nhiều công ty vô danh khác đồng thời cũng thành lập.
Kinh tế của thực dân vì chiến tranh ở châu Âu làm cho giảm sút hoạt động; công thương nghiệp dân tộc Việt Nam phát triển, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam cũng thành hình.
3. Tình hình kinh doanh của tư sản dân tộc từ sau Đại chiến 1914-1918
Đại chiến 1914-1918 kết thúc.
Thực dân Pháp lại tiến hành khai thác ở Việt Nam. Lần này với một quy mô rộng lớn hơn, chúng tăng cường vơ vét của cải ở Việt Nam để bù đắp vào chỗ thiếu hụt trong chiến tranh và làm giàu thêm cho tư bản Pháp. Đường xe lửa, đường ô tô nối liền các tỉnh để chở nguyên liệu, thóc gạo, hàng hóa. Đông Dương Ngân hàng, Địa ốc Ngân hàng mở thêm. Công ty doanh nghiệp Pháp mọc lên nhiều. Các hãng L’Ucia, Descours & Cabaud, Poinsard Veyret, Denis Frères, Optorg hoạt động ráo riết hơn. Đồng thời nhiều thứ thuế xuất hiện đánh vào công thương nghiệp dân tộc ở Việt Nam.
Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam lúc này sẵn có vốn và đang đà phát triển cũng tăng cường hoạt động. Họ cạnh tranh với tư bản Pháp để phát triển kinh doanh của họ. Nhưng chính sách kinh tế của thực dân Pháp đã chặn bước tiến của họ lại. Thực ra, thực dân Pháp cần có những tầng lớp trung gian để tiện việc khai thác nguyên liệu, buôn bán hàng hóa ; tầng lớp đó chủ yếu là giai cấp tư sản Việt Nam. Nhưng để tư sản Việt Nam được tự do phát triển thì quyền lợi của chúng bị va chạm. Cho nên, chúng không để tư sản Việt Nam được tự do kinh doanh theo khả năng và nguyện vọng của họ. Chùng dùng mọi thủ đoạn để kìm hãm hoạt động của họ.
Nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi năm 1923-1924 có gần 100 tầu thủy chở khách, chiếm gần hết lợi quyền chạy tầu trên mặt sông ở Bắc bộ. Ông đã có tầu chạy vào Tourane và Sài Gòn. Ông có xưởng máy nhỏ để chữa tầu. Công nhân và người làm công tới trên 3.000. Vốn của ông ước chừng 10 triệu đồng. Ông đang định cho tầu chạy các sông ở Trung bộ. Bên việc kinh doanh chạy tầu, ông còn bắt đầu khai mỏ than. Mỏ Bí Chợ của ông ở Uông Bí có độ hơn một trăm người làm. Nhưng nếu để Bạch Thái Bưởi tự do phát triển kinh doanh thì nhiều hãng tư bản Pháp sẽ thất bại. Cho nên thực dân Pháp đã ra lệnh hạn chế tầu Bạch Thái Bưởi chạy trên các mặt sông; gây nhiều khó khăn thiệt hại cho ông, chẳng hạn bắt chữa tầu mặc dầu tầu của ông không hỏng. Đến năm 1925, vốn dần dần bị hao mòn, ông Bạch Thái Bưởi phải bán tất cả số tầu của ông cho hãng tư Pháp Sauvage.

Hãng sơn Résistanco của ông Nguyễn Sơn Hà ở Hải Phòng từ một cửa hiệu nhỏ, kỹ thuật thấp kém dần dần lớn lên thành một nhà máy rộng bốn, năm mẫu; kỹ thuật khá cao. Vì ông Nguyễn Sơn Hà đã đánh bại những hãng sơn Pháp như Poinsard Veyret và làm rung chuyển địa vị các hãng sơn Pháp ở chính quốc nên thực dân đã tìm cách phá sơn Résistanco. Chúng cấm các công sở và những người Pháp không được dùng sơn Résistanco khi chính quyền thực dân chưa công nhận là một hãng sản xuất tốt. Nhà máy sơn của ông Hà đang sản xuất đều, chúng bắt dỡ đi nơi khác. Một người Việt Nam khác tìm được mỏ mica ở Phú Thọ, năm 1943 xin khai mỏ ấy. Nhưng tới khi bắt đầu làm thì chính phủ thực dân ra lệnh xung công mỏ mica đó.
Ngoài những luật lệ trắng trợn mà trên đây là một vài tỉ dụ, chế độ độc quyền quan thuế của thực dân đặt ra cũng làm cho tư sản dân tộc ở Việt Nam không thể hoạt động dễ dàng được. Đạo luật thuế quan bổ sung ngày 13 tháng 4 năm 1928 không cho hàng hóa các nước khác đưa vào bán ở Việt Nam. Những nhà tư sản dân tộc Việt Nam bó buộc phải mua hàng hóa của Pháp. Ông Nguyễn Sơn Hà muốn mua nguyên liệu của Đức, Nhật nhưng vì thuế nặng, giá trở nên đắt quá, lại phải mua của hãng sơn Pháp Poinsard Veyret. Hàng hóa Pháp lũng đoạn thị trường bóp chết nhiều công nghiệp và thủ công nghiệp cựu truyền Việt Nam.

Sau Đại chiến thứ nhất, ngoài những nhà tư sản dân tộc có tiếng, lại xuất hiện thêm một số nhà tư sản dân tộc khác. Ở Gia Lâm có nhà máy khuy trai của ông Q. Phong. Ở Thanh Hóa, năm 1926-1927 có hai hội buôn lớn: Hưng Nghiệp hội xã và Tiên Long thương đoàn. Năm 1925-1926, ở Thanh Hóa và Văn Điển có hai công ty nấu rượu là Nam Đồng Ích và Văn Điển thành lập. Năm 1926, một số tư sản và địa chủ ở Sài Gòn thành lập Việt Nam Ngân hàng, vốn ước chừng 25 vạn đồng. Cũng ở Sài Gòn, năm 1925, Trương Văn Bền mở xưởng chế xà phòng. Nhiều công ty làm thủy tinh, xưởng dệt vải, ép dầu cũng lập lên. Nhưng những công ty doanh nghiệp đó sớm muộn đều bị tư sản Pháp làm tan vỡ hoặc bằng cạnh tranh, hoặc bằng những luật lệ hạn chế sản xuất.
Sống trong tình cảnh bị chèn ép, tư sản Việt Nam đã đấu tranh lại để bảo vệ kinh doanh của họ. Họ cổ động nhân dân dùng nội hóa không tiêu thụ ngoại hóa. Năm 1923, một số tư sản và địa chủ kiêm tư sản ở Nam bộ lôi kéo các tầng lớp công thương khác chống thực dân Pháp độc chiếm cửa bể Sài Gòn. Rồi từ đấu tranh ở ngoài thị trường, họ tiến lên hình thức đấu tranh trên báo chí để đòi tự do và dân chủ. Vì lực lượng của tư sản dân tộc Việt Nam nhỏ bé, địa vị kinh tế lại thấp kém cho nên cuộc đấu tranh của họ cũng rất yếu ớt.
Thực dân Pháp càng tích cực hoạt động thì tư sản dân tộc Việt Nam càng bị chèn ép.
Chúng chiếm đoạt nguyên liệu làm cho tư sản dân tộc Việt Nam không thể mở mang công nghiệp. Hầm mỏ, nhà máy, đường xe lửa, rừng cây, tất cả là của các công ty tư bản Pháp. Công ty than Hòn-gay, nhà máy sợi và máy tơ Nam Định, công ty nấu rượu, làm diêm, làm thủy tinh, làm xi măng, chế cao su, nhà máy đèn đều là của thực dân Pháp.
Chúng không chủ trưởng mở công nghiệp ở Việt Nam, sợ công nghiệp Việt Nam phát triển, cạnh tranh lại công nghiệp Pháp.

Kết quả chính sách kinh tế của thực dân Pháp là đè bẹp mọi khả năng phát triển của tư sản dân tộc. Kinh doanh của những người này chỉ thu hẹp trong phạm vi tiểu công nghiệp và tiểu thương mại. Họ không được buôn bán rộng ra nước ngoài. Họ phải phụ thuộc vào tư bản Pháp. Theo thống kê của Pháp năm 1936 trong số 44.759 hãng buôn Việt Nam phải nộp môn bài thì 40.000 người trả môn bài từ 2 đến 10 đồng, 150 người trả từ 100 đến 500đ, chỉ có 5 hãng phải trả từ 500 đến 600 đ. Trong khi đó có 830 hãng người Âu thì chỉ có 75 người trả từ 2 đến 10đ, 70 người trả từ 1.200 đến 6.000 đ. và trên nữa. Con số đó chứng tỏ thương nghiệp Việt Nam phần lớn bị tư bản Pháp kiểm soát. Họ không lớn lên được vì chính sách kinh tế chèn ép của thực dân Pháp.
Thực ra, tư sản dân tộc Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển kinh doanh. Nước ta giàu nguyên liệu; nhiều cửa bể, sông ngòi và đường xá thuận lợi cho giao thông buôn bán. Rừng núi nước ta có nhiều lâm sản quí. Sản vật ở nông thôn rất phong phú. Nhân dân ta là nguồn vô tận để tiêu thụ và cung cấp hàng hóa cho các nhà tư sản dân tộc.
Nhưng dưới thời Pháp thuộc, với chính sách chèn ép, bóc lột của thực dân Pháp, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam không những không thể phát triển được mà còn bị phá sản suy vong.■
NGUYỄN CÔNG BÌNH