Tóm tắt:
Bài viết “Lê Quý Đôn với những chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” làm rõ giá trị lịch sử và pháp lý của các tư liệu do Lê Quý Đôn để lại trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trọng tâm bài viết tập trung phân tích tác phẩm “Phủ biên tạp lục” (1776), trong đó Lê Quý Đôn ghi chép cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên của Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời phản ánh hoạt động quản lý nhà nước của các chúa Nguyễn thông qua việc thành lập đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải để khai thác, tuần tra và thực thi chủ quyền trên biển. Những ghi chép này cho thấy các hoạt động quản lý diễn ra thường xuyên, liên tục và hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc của công pháp quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ. Bài viết cũng phân tích các tư liệu về quan hệ giữa chính quyền Đại Việt và nhà Thanh, qua đó chứng minh phía Trung Quốc đã biết và tôn trọng hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Tác giả khẳng định rằng các ghi chép của Lê Quý Đôn không chỉ là nguồn sử liệu có giá trị đặc biệt mà còn tiếp tục được sử dụng như những chứng cứ lịch sử và pháp lý quan trọng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam hiện nay.
Thế kỷ XVIII trong lịch sử Việt Nam là khoảng thời gian có nhiều biến động: Chế độ phong kiến mục nát, quần chúng đói khổ nổi lên đấu tranh ở khắp nơi. Nhưng mặt khác, trong lòng xã hội Việt Nam lúc ấy cũng nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ thị trường trong nước mở rộng tạo điều kiện cho thương nghiệp, thủ công nghiệp phát triển… Những biến động ấy đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, tư tưởng của người dân và từ đó, trong cơn bão táp của thời cuộc, nhiều tên tuổi lớn xuất hiện trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn…

Lúc này, các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy từ những thế kỷ trước bước vào giai đoạn tổng kết, hệ thống hóa. Chính trong yêu cầu ấy, một bộ óc bách khoa vĩ đại của dân tộc đã xuất hiện. Người ấy là Lê Quý Đôn với những kiến thức uyên bác về chính trị, kinh tế, lịch sử, Nho học, Phật học, địa lý học, nông học, thư tịch học và ngôn ngữ học.
Lê Quý Đôn, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh năm 1726, mất năm 1784. Ông quê ở làng Diên Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay thuộc Hưng Yên), trong một gia đình giàu truyền thống khoa bảng. Ông là con của Tiến sĩ Lê Trọng Thứ (có tài liệu chép là Lê Phú Thư), một danh thần của triều Lê – Trịnh. Lê Quý Đôn nổi tiếng học giỏi, thông minh và có trí nhớ tốt. Năm 17 tuổi, ông đỗ Giải nguyên; năm 26 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi thi Đình đỗ Bảng nhãn (khoa thi ấy không lấy Trạng nguyên). Sau khi thi đỗ đại khoa, Lê Quý Đôn được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn lâm, rồi làm việc tại Viện Quốc sử. Năm 1757, ông được thăng chức Hàn lâm viện Thị giảng.
Năm 1760, nhân Vua Lê Ý Tôn mất, Lê Quý Đôn cùng với Trần Huy Mật được triều đình cử dẫn đầu một đoàn sang nhà Thanh báo tang và dâng lễ cống. Năm 1761, phái đoàn nước Đại Việt đến Bắc Kinh. Sự uyên bác của Lê Quý Đôn không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vượt ra ngoài biên giới, sang tận Trung Quốc. Vì vậy, khi biết trong đoàn sứ bộ Đại Việt có Lê Quý Đôn, một số nho thần nhà Thanh như Binh bộ Thượng thư Lưu Thư Chính, Công bộ Thượng thư Quý Hữu Quang và nhiều nho thần khác đã đến sứ quán Đại Việt thăm Lê Quý Đôn. Khi làm lễ tại Hồng Lô tự, Lê Quý Đôn gặp các sứ thần Cao Ly là Hồng Khải Hy, Triệu Vinh Tiến, Lý Hưng Trung. Các ông đã làm thơ xướng họa rất trữ tình. Lê Quý Đôn làm thơ nhằm sánh ngang non sông hai nước:
“Tản Viên khái tự Tùng Sơn tú,
Áp Lục ưng đồng Nhị Thủy trường.”
(Xanh tốt Tùng Sơn ngang núi Tản,
Đua oai sông Áp sánh Hồng Hà)
Lê Quý Đôn còn giới thiệu với các sứ thần Cao Ly về đất nước, con người và văn hóa Đại Việt qua một số trước tác của mình. Giữa Lê Quý Đôn và Hồng Khải Hy có nhiều điểm tương đồng của hai học giả lớn đến từ hai nước và rất có mối thiện cảm với nhau. Khi viết lời tựa cho cuốn sách Quần thư khảo biện của Lê Quý Đôn, Hồng Khải Hy nhận xét: “Học thuật của ông rất thuần chính mà văn lý cũng thuận hòa… Lẽ không chỗ nào không đủ, lý không chỗ nào không cùng. Học thuật của phương Nam mà thần thái được tinh hoa như ông thật là giỏi” và: “Phàm những kinh truyện, các sách sử và chư tử, chỗ nào thích hợp với thâm tâm, ông đều góp nhặt tinh hoa”[1].
Khi đọc thêm các công trình khảo cứu của Lê Quý Đôn như Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện, Tiêu Tương bách vịnh, sứ giả đồng thời là học giả Cao Ly Hồng Khải Hy còn nhận xét: “Không có người thì lòng trời không bởi đâu mà thực hiện được; không có văn thì lòng người không bởi đâu mà không đạt được, văn là cái mà vẻ tinh sáng của loài người hiện ra…”[2].
Không chỉ là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà thơ, Lê Quý Đôn nổi bật trong lịch sử Việt Nam là nhà bác học uyên thâm lớn nhất dưới thời phong kiến[3]. Ông để lại cho hậu thế nhiều công trình có giá trị. Về sử học, ông có các tác phẩm: Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục. Về triết học, ông có: Thi kinh diễn nghĩa, Dịch kinh phu thuyết, Xuân Thu lược luận, Quần thư khảo biện. Về sáng tác văn học và sưu tầm văn chương, ông có: Hoàng Việt văn hải, Quế Đường thi văn tập. Về khoa học, ông có: Vân đài loại ngữ…
Lê Quý Đôn còn có nhiều ghi chép khác thể hiện ông là một nhà địa lý học, nhà dân tộc học và nhà ngôn ngữ học. Học trò của ông là Bùi Huy Bích (1744 – 1818), đỗ Hoàng giáp năm 1769, làm Đốc đồng Nghệ An, rồi thăng đến Hành tham tụng vào cuối thời Lê Hiển Tông. Ông là tác giả hai bộ hợp tuyển thơ văn nổi tiếng là Hoàng Việt thi tuyển (1788) và Hoàng Việt văn tuyển (1788), cùng các tác phẩm Bích Câu thi tập, Lữ trung tạp thuyết, Ngũ kinh tiết yếu, Luận ngữ tiết yếu. Đánh giá về người thầy của mình, Bùi Huy Bích từng viết: “Nước ta trong vài trăm năm trở lại đây mới có một người như thầy”.
Trong các công trình của Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục là tập ký ông viết về Đàng Trong, nhất là xứ Thuận và xứ Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước. Trước đó, chúng ta chỉ biết đến công trình Ô Châu cận lục của Dương Văn An sinh năm 1514 ở Từ Liêm, Hà Nội, đậu tiến sĩ năm 1547 đời nhà Mạc (triều Mạc Phúc Nguyên) làm Lại khoa Đô cấp sự trung rồi thăng lên Thượng thư. Ô Châu cận lục do Dương Văn An biên soạn là một cuốn địa phương chí viết về núi sông, thành quách xứ Thuận Quảng. Cũng có thể coi đây là cuốn sách đầu tiên ghi chép về một vùng đất phía Nam nước Việt Nam. Song, phải đến năm 1776 dưới triều Lê Cảnh Hưng, Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục thì tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử và địa lý vùng đất Đàng Trong từ Thuận Hóa đến Quảng Nam trở vào Nam mới được làm rõ, đặc biệt là có nhiều tư liệu khẳng định chủ quyền của Đại Việt đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách mô tả khá cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên cùng các sản vật của hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa cũng như việc các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã thành lập các đội Hoàng Sa và Bắc Hải, phái các đội ngũ này đi thám sát, kiểm tra và khai thác các nguồn lợi kinh tế nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Phủ biên tạp lục nêu rõ: “phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn. Thấy người thì đậu vòng quanh không tránh…

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này, trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cử tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếu, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cũng là kiếm, lượm, đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm bột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 lại về…
Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đó, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tài võ các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm cũng sai đội Hoàng Sa kiêm quan…”[4].
Những nội dung trích dẫn trên đây chứng tỏ từ thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, người dân đã tham gia khai thác các nguồn lợi, qua đó xác định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tổ chức nhà nước là chính quyền các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải, cắt cử người dân ra đảo hàng năm. Nếu thành viên các đội Hoàng Sa là dân binh thì đội Bắc Hải đã được xếp là thuộc quân đội chính quy của triều đình.
Không những thế, Lê Quý Đôn còn kể lại câu chuyện về quan hệ thân thuộc của chính quyền và cư dân của Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian này, thậm chí còn giúp đỡ lẫn nhau trong mối quan hệ láng giềng. Lê Quý Đôn viết:
“Hoàng Sa chính gần phủ Liên Châu đảo Hải Nam (Trung Quốc, chú thích của tác giả), người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc, hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu (Trung Quốc, chú thích của tác giả) gởi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Kiến Long (Càn Long, chú thích của tác giả) thứ 18 có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liêm, huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến vạn lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xác thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai Thuận Hóa là Thức Lượng hầu làm thư trả lời”[5]. Điều này chứng tỏ ngày ấy quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã rất thân thiện. Trung Quốc tôn trọng hoạt động thực thi quyền chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này. Ngư dân hai nước gặp nhau, hỏi thăm nhau, quan lại hai nước gửi công văn trao đổi, thậm chí giúp nhau cứu giúp công dân bị nạn…
Có thể nói những ghi chép của Lê Quý Đôn đã rất có giá trị cho các thời kỳ sau đó cho đến ngày nay trong việc xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vừa là chứng cứ lịch sử và chứng cứ theo công pháp quốc tế. Những tư liệu này chứng minh rằng: Chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về Đại Việt từ trước thời Lê Quý Đôn. Các hoạt động thực thi chủ quyền là hoạt động quản lý nhà nước, diễn ra hòa bình và liên tục. Các quốc gia láng giềng, trong đó có nhà Thanh (Trung Quốc) cũng đã công nhận và tôn trọng chủ quyền của Đại Việt đối với hai quần đảo này.
Trong những năm gần đây, trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với vùng đất, vùng biển đảo, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, lịch sử, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh vẫn sử dụng những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục làm bằng chứng quyền chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong bộ sách “Nghiên cứu chủ quyền quốc gia, lãnh thổ theo định hướng tiếp cận toàn bộ và toàn diện của Lịch sử Việt Nam” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh và Đại học Sư phạm Đà Nẵng xuất bản vào tháng 8 năm 2025 với quy mô 2411 trang với 191 bài viết của các nhà khoa học, rất nhiều bài đã sử dụng công trình Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn để chứng minh cho chính quyền của đất nước cung cấp bằng chứng lịch sử – pháp lý toàn diện, phục vụ thiết thực cho công tác tuyên truyền, giảng dạy và đấu tranh bảo vệ chủ quyền và giáo dục truyền thống theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII.■
PGS.TS Trần Đức Cường
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Chú thích:
[1] Xem: Văn Tân, Lê Quý Đôn (1726-1784) nhà bác học lớn nhất của Việt Nam dưới thời phong kiến. In trong: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trí thức Việt Nam Xưa và Nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, tr.373, 374
[2] GS. Bùi Duy Tân, Tứ hải giai huynh đệ: Những cuộc tao ngộ sứ giả – nhà thơ Việt – Triều trên đất nước Trung Hoa thời Trung đại; Trong: Tương đồng văn hóa Hàn Quốc – Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1996, tr.61.62
[3] Xem: Văn Tân, Lê Quý Đôn (1726-1784) nhà bác học lớn nhất của Việt Nam dưới thời phong kiến. In trong: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trí thức Việt Nam Xưa và Nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, tr.373. 374
[4] Lê Quý Đôn toàn tập, tập I Phủ biên tạp lục, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.119,120.
[5] Lê Qúy Đôn toàn tập, tập I Phủ biên tạp lục, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.120