Ngàn năm hình thành một đất nước

Chiến thắng vĩ đại ngày 30/4/1975 là cột mốc quan trọng mở đầu cho chương mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chiến thắng này không chỉ được nhìn nhận như một khoảnh khắc quân sự – chính trị mang tính quyết định, mà còn là kết quả của những chuyển biến lâu dài về địa chính trị của lịch sử. Tạp chí Phương Đông biên dịch và giới thiệu bài viết “Nghìn năm hình thành một đất nước” của nhà sử học Philippe Papin đăng trên tạp chí “Hors – série Geo: Vietnam spécial anniversaire 1975-2005” xuất bản năm 2005 phân tích chi tiết góc nhìn này. Các từ ngữ và quan điểm trong bài thể hiện ý kiến của tác giả, chúng tôi giữ nguyên để đảm bảo tính khách quan.

*

Ngày 30/4/1975, các lực lượng cách mạng tiến vào Sài Gòn đã chấm dứt ba thập kỷ chiến tranh kéo dài và tình trạng chia cắt của Việt Nam. Sự kiện thống nhất thông qua vũ trang này đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi mỗi siêu cường đã xác định rõ phạm vi ảnh hưởng của mình, từ đó, cuộc đối đầu diễn ra ở những nơi khác nhau và theo phương thức gián tiếp. Đối với người Việt Nam, chiến thắng trước người Mỹ mở ra một thời kỳ mới, đặt hai thế giới khác biệt vốn hầu như chưa hiểu biết gì về nhau vào thế tiếp xúc trực diện: miền Bắc và miền Nam đất nước. Xét từ góc độ đó, ngày 30/4/1975 là một bước lớn trên con đường thống nhất quốc gia. Sự thống nhất ấy không phải một dữ kiện tự nhiên có sẵn, mà là thành quả mang tính chính trị. Nó mang đặc điểm gắn liền với làn sóng di cư của người Việt – nhóm dân tộc hiện chiếm đa số tại Việt Nam hiện nay. Ban đầu cư trú tại lưu vực sông Hồng, các cộng đồng này dần di chuyển xuống phía Nam, rồi 10 thế kỷ sau đó lại chuyển hướng về phía các vùng chân núi phía Tây. Quá trình mở rộng này diễn ra từng đợt với những gián đoạn và đứt gãy, tất yếu tạo ra đường ranh giới về chính trị và văn hoá.

Binh lính Việt Nam Cộng hoà đầu hàng tại Dinh Độc lập ngày 30/4/1975 khi quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Ảnh: Adn Bildarchiv

Từ thế kỷ X, người Việt bắt đầu quá trình mở rộng lãnh thổ dưới tác động của ba yếu tố: sự rút lui của quân Trung Hoa khỏi lãnh thổ, áp lực dân số gia tăng và chiến lược mở rộng của các triều đại đế chế độc lập. Người Việt tiến dần về những vùng ven biển, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, nối đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê Kông qua một chuỗi các thung lũng có những dãy núi ngang ngăn cách. Những thung lũng này được tổ chức theo mô hình xã nông thôn, dựa trên hai nguyên tắc. Một mặt, họ thiết lập hệ thống phân cấp xã hội chặt chẽ giữa những người tiên phong; mặt khác, triều đình ban cho họ địa vị chính thức để đổi lấy các đặc quyền về ruộng đất, thuế khoá dành cho những người khai khẩn và lập thôn ấp. Kết hợp giữa di dân, khai hoang đất đai và một loạt những xã thôn bền vững, mô hình này sau đó đã mở rộng tới tận đồng bằng sông Mê Kông. Đây là một nhân tố tạo nên sự thống nhất của Việt Nam. Ngày nay, việc thành lập các xã nông thôn vẫn đang tiếp diễn tại các vùng núi có nhiều nhóm dân tộc thiểu số sinh sống.

Quá trình này kéo dài suốt 1.000 năm (từ thế kỷ X – XIX), có tên là Nam Tiến, là nguồn gốc của những tiếp xúc giữa người Việt với các cộng đồng dân cư tại những thung lũng miền Trung và đồng bằng phía Nam, nhất là với người Chăm và người Khmer. Đèo Hoành Sơn – mũi núi đá ngăn cách hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay, từng là biên giới với vương quốc Champa theo Ấn Độ giáo, đã bắt đầu được chinh phục từ cuối thế kỷ XI. Ngay sau đó, một chiếu vua ban đã khuyến khích người dân di cư tới vùng này. Năm 1307, vua Champa kết hôn cùng một công chúa người Việt và đem vùng nam Quảng Trị làm của hồi môn. Từ đó, biên giới mới của Việt Nam tiến tới nơi mà ngày nay là thành phố Huế. Sự tịnh tiến ấy tiếp tục cho tới năm 1472, quân đội của Vua Lê Thánh Tông thu phục hoàn toàn vương quốc Champa. Cho đến cuối thế kỷ XVI, từ các làn sóng di cư, việc chung sống lâu dài giữa người Việt và người Chăm đã tạo nên một nền văn minh độc đáo mà các vùng miền Trung vẫn còn mang dấu ấn, có ảnh hưởng sâu sắc tới Thăng Long (Hà Nội trước kia), đặc biệt trong các lĩnh vực như kim hoàn, điêu khắc, âm nhạc. Năm 2003, ở di tích Hoàng thành Thăng Long đã tìm thấy các hiện vật có hoạ tiết trang trí và văn tự bằng tiếng Chăm. Những hiện vật này cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá Chăm đối với miền Bắc từ xưa kia, dù tới thế kỷ XV trở đi, Nho giáo đã dần dần xoá bỏ những dấu vết ấy.

Phế tích Chăm những năm 1920 qua ảnh lưu trữ của Cao ủy Pháp tại Đông Dương

Đầu thế kỷ XVII, tiến trình Nam Tiến bị gián đoạn đột ngột do hai thế lực phong kiến đối địch làm chia cắt đất nước, ngăn cách bởi sông Gianh: họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam. Từ đó cho tới khi đất nước lại liền một khối vào năm 1802, miền Bắc đã tách khỏi vùng phía Nam vốn thu phục được từ tay người Khmer và được khai thác, phát triển bởi chính quyền chúa Nguyễn ở phương Nam. Chính quyền này dựa vào những người Hoa lưu vong chống lại triều đại Mãn Thanh (1644), những người được cho phép tị nạn tại Việt Nam với điều kiện là định cư tại đồng bằng sông Mê Kông. Nhờ việc có người Hoa sinh sống, một loạt đô thị đã hình thành như Biên Hoà, Mỹ Tho, Hà Tiên; góp phần lớn vào việc mở rộng miền Nam. Bà Rịa xuất hiện năm 1658, Sài Gòn năm 1698, Tây Ninh năm 1750, bảy năm sau đó là vùng phía bắc sông Hậu, Bạc Liêu và Sóc Trăng năm 1840. Giữa thế kỷ XIX, ở đồng bằng phía Nam, người Việt đã đông gấp 10 lần người Khmer, tới năm 1834, quân đội triều đình đã tiến tới Phnom Penh. Vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn – Gia Long, công nhận vùng lãnh thổ mới này, đã chuyển kinh đô từ Hà Nội vào Huế. Thành phố này trở thành nơi cân bằng về địa lý và chính trị của một đế quốc trải dài từ biên giới Trung Hoa đến mũi Cà Mau.

Cổng vào điện Cần Chánh kinh thành Huế – nơi Vua thiết triều những năm 1920. Nguồn: Lưu trữ của Cao uỷ Pháp tại Đông Dương

Lịch sử quá trình định cư ở Việt Nam vì thế đã tạo nên một đường ranh giới tự nhiên giữa hai miền, chạy ngang qua tỉnh Quảng Bình và sông Gianh. Con sông này chảy cách dãy Hoành Sơn vài cây số và chỉ nằm cách đường vĩ tuyến 17 nổi tiếng – đường phân chia Việt Nam từ năm 1954 – 1975, chưa đầy 50km về phía bắc. Là một điểm cân bằng, đường phân đôi của Việt Nam trong nhiều thế kỷ, đường ranh giới “vô hình” này chia tách hai thế giới. Một bên là đồng bằng sông Hồng – cái nôi của người Việt và của các thế hệ tôn kính Nho giáo, của cộng đồng làng xã và nền văn minh nông nghiệp luôn bị người láng giềng phương Bắc nhăm nhe. Bên kia là các thung lũng miền Trung, nơi các cộng đồng dân cư đã hoà trộn trước khi tiến xuống phía nam để chinh phục, là một môi trường năng động, đa dạng thành phần về văn hoá, ít đồng nhất về xã hội và có phần kém phục tùng quyền lực chính trị từ phía trên.

Ngoài đường ranh giới theo chiều ngang, còn có một đường phân chia đất nước theo trục Đông – Tây, giữa đồng bằng và miền núi. Trong thời gian dài, vùng núi cao vẫn là thế giới xa lạ đối với người Việt, và nhiều lắm cũng chỉ áp dụng một hình thức triều cống mang tính tượng trưng đối với các nhóm sắc tộc sinh sống tại đó. Khi chính quyền thuộc địa Pháp ấn định biên giới giữa Campuchia và Nam Kỳ, hai thế giới song song đó mới đối diện với nhau. Quá trình Nam Tiến bỗng khựng lại ở lối đi về phía nam, từ đó chuyển hướng thành một “cuộc hành trình về phía tây”. Từ đầu thế kỷ XX, dân số người Việt ngày một tăng (13 triệu người năm 1900, 25 triệu người năm 1945), họ bắt đầu tiến lên khai phá vùng trung du và miền núi. Tại đó, họ phát hiện ra ba điều mới lạ: khí hậu, rừng rậm và khoảng 50 nhóm dân tộc thiểu số.

Nếu vào thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã cai trị lãnh thổ quy mô tương đương với Việt Nam hiện nay, và nếu đầu thế kỷ XX, quá trình thuộc địa hoá của Pháp khởi đầu cho những cuộc di cư đầu tiên lên vùng trung du và miền núi, thì chính các cuộc chiến tranh diễn ra vào nửa sau thế kỷ XX mới thực sự thống nhất lãnh thổ quốc gia. Trước hết là theo trục Bắc – Nam, nhờ vào công cuộc chiến đấu 30 năm tuy đầy đau thương nhưng hun đúc một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, và thắng lợi tháng 4/1975 được phần lớn người dân cảm nhận như một sự kiện giải phóng. Tiếp đến là theo trục Đông – Tây, nhờ các cộng đồng người Thượng – vốn kiểm soát những vùng đất chiến lược (như đường mòn Hồ Chí Minh), thực tế vùng này đã là tâm điểm của cuộc đấu tranh, đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của người Việt. Cuối cùng, như một cao trào của những biến động ấy, ngay lập tức, việc thống nhất chính trị được nối tiếp bằng các cuộc di dân lớn: chỉ trong hơn 10 năm, gần 4 triệu người từ đồng bằng sông Hồng được đưa vào miền Nam và di chuyển tới các cao nguyên miền Trung. Khoảng 1/3 dân số tỉnh Thái Bình, phía nam Hải Phòng đã di cư lên các vùng núi, ở đó họ lập nên những ngôi làng có cùng tên với quê gốc của mình. Chỉ trong vài năm – khoảng thời gian rất ngắn nếu xét theo quy mô lịch sử, dân cư ở phía bắc đã toả xuống phía nam, và cư dân đồng bằng đã chuyển đến sinh sống ở những vùng trung du miền núi.

Những người Mường sinh sống tại Ba Vì đầu thế kỷ XX. Ảnh chụp bởi Pierre Dieulefils

Vậy ngày nay tiến trình thống nhất không gian quốc gia Việt Nam đã đi tới giai đoạn nào? Không hề ngạc nhiên khi nhận thấy vai trò chủ đạo của miền Trung Việt Nam, là điểm cân bằng giữa miền Bắc và miền Nam – hai miền có sự phát triển khác biệt do lịch sử. Chính xác hơn, Bắc Trung Bộ (các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình) mới là mắt xích quan trọng của cả nước. Đây chính là điểm xuất phát của những di dân đầu tiên – những người sau khi vượt đèo Hoành Sơn đã bị chia cắt với quê cha đất tổ vì ranh giới vạch ra bởi hai dòng họ Trịnh – Nguyễn. Nói cách khác, xưa kia họ là người miền Bắc duy nhất tiến về phía nam. Rất nhiều nhà lãnh đạo xuất thân từ vùng đất này, từ lãnh tụ Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn, ông Lê Khả Phiêu cho đến phần lớn các Tổng Bí thư và Bộ trưởng đương nhiệm. Các văn phòng, bộ ngành, doanh nghiệp lớn, ban điều hành hội đoàn cũng có phần lớn người miền Trung.

Chính sách thống nhất trước đó chưa đủ để xoá bỏ những ranh giới rạn nứt cũ, nhất là sau công cuộc mở cửa kinh tế năm 1993. Miền Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh vốn là vùng thương mại năng động (GDP đầu người ở miền Nam cao gấp đôi miền Bắc), đang dần miễn cưỡng trong việc hỗ trợ cho miền Bắc – nơi tập trung quyền lực chính trị cốt lõi. Ở Tây Nguyên, cư dân xuất hiện biến động, như dân tộc Gia Rai và Ê Đê (tháng 2/2001 và tháng 4/2004), nguyên nhân chủ yếu do tranh chấp đất canh tác, vốn mang lại lợi nhuận lớn nhờ các đồn điền cà phê. Ở những vùng cao, căng thẳng vẫn còn tồn tại và đang được kiểm soát chặt chẽ. Nhà nước đã triển khai chính sách để xoa dịu những mối chia rẽ trước đây. Về hạ tầng giao thông, đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành tuyến đại lộ nối liền từ Hoà Bình đến Bình Thuận, với các tuyến đường ngang xuyên tới những vùng ven biển và các nước láng giềng. Con đường này tạo thành đường kết nối miền Bắc, Tây Nguyên cùng các vùng đồng bằng miền Trung và miền Nam. Tái cân bằng quyền lực dường như là mục tiêu của việc điều chỉnh địa lý trong các cơ quan quyền lực. Trong kỳ bầu cử Quốc hội năm 2002, tỷ lệ đại biểu ở miền Nam đã đạt mức 20%, các dân tộc thiểu số cũng tăng tỷ lệ hiện diện của mình. Việc phân bổ lại dân cư, các công trình quy hoạch lãnh thổ tốt hơn cho thấy Việt Nam đang nỗ lực để giảm bớt các đường ranh giới lịch sử, hoặc ít nhất là ngăn không cho chúng bùng phát trở lại.■

Philippe Papin

Lê Hằng Nga (dịch)

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN