Sức mạnh to lớn của lòng yêu nước và đại đoàn kết dân tộc

Những ngày này, người dân cả nước đang hào hứng chứng kiến một cách đầy tự hào lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập nước với lễ diễu binh hoành tráng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử – nơi cách đây tròn 80 năm, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một lễ diễu binh hiếm có diễn ra ở Thủ đô và trên biển tái hiện 80 năm hào hùng của Việt Nam với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong dòng chảy của nhân loại.

Thời điểm này, hẳn là nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà sử học nổi tiếng trên thế giới sẽ đặt câu hỏi, Việt Nam là một đất nước có diện tích nhỏ, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại phải chiến đấu với giặc ngoại xâm liên miên để bảo vệ Tổ quốc, sau chiến tranh lại bị bao vây cấm vận, cô lập với thế giới, nhưng vì sao có thể giành được những thắng lợi, những thành tựu thần kỳ như vậy? Có lẽ câu trả lời được nhiều người nhất trí hơn cả, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm nên thành công đó chính là nhờ sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết của người dân Việt Nam.

Lịch sử đã chứng minh rằng, ngay từ những ngày xa xưa tổ tiên ta cùng nhau xây đắp nên hình hài Tổ quốc hình chữ S, lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đã hình thành, bồi đắp tạo nên truyền thống tốt đẹp trong lich sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chính nhờ lòng yêu nước nồng nàn như thế, mà trong đêm trường nô lệ, biết bao cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Người trước ngã xuống, người sau xông lên. Thế kỷ này thất bại, thủ lĩnh hi sinh, thế kỷ sau các cuộc khởi nghĩa do các thủ lĩnh khác lãnh đạo lại tiếp nối. Cứ như thế, làn sóng yêu nước, sức mạnh đoàn kết dân tộc được duy trì theo các cuộc đấu tranh, theo thời gian mà nhân lên mạnh mẽ hơn. Từ đó người dân Việt Nam cả triệu người như một tạo nên sức mạnh vô biên giành độc lập dân tộc sau nhiều thế kỷ bị chế độ phong kiến phương Bắc đô hộ, lập nên triều đại phong kiến độc lập, sánh vai với thiên hạ.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng…”[1].

1. Trở lại với cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, thời gian càng lùi xa chúng ta càng có điều kiện để chiêm nghiệm, thấu hiểu hơn về tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945. Lúc này Đảng ta mới 15 năm thành lập, cả nước mới chỉ có 5.000 đảng viên, quân đội vừa ra đời lực lượng còn mỏng, vũ khí thô sơ, kinh nghiệm chiến đấu ít ỏi, lực lượng Công an vừa mới ra đời; trong khi phát xít Nhật tuy đầu hàng Đồng minh nhưng đang xâm chiếm nước ta; quân đội thực dân Pháp tuy thua trận nhưng còn mạnh, nhưng vì sao chỉ trong vòng nửa tháng, chỉ bằng tầm vông, gậy gộc, giáo mác, vũ khí thô sơ, nhân dân cả nước đã đồng lòng đứng lên làm cuộc cách mạng “long trời lở đất”, giành độc lập, tự do cho đất nước, đánh đổ chế độ thực dân, đánh đổ chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm lập nên chế độ cộng hòa, chế độ công nông đầu tiên trong thế giới thuộc địa? Đó là nhờ sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết chảy trực hệ trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam, là khát vọng giành độc lập cho dân tộc của toàn dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương phát động và lãnh đạo. Trước đó, cũng vì lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết mà ở thời điểm cực kỳ quan trọng quyết định tổ chức Đại hội Quốc dân Tân Trào 16/8/1945, các đại biểu Bắc, Trung, Nam và ở nước ngoài, các đại biểu tôn giáo, đảng phái, dân tộc vượt ngàn dặm về họp, đồng lòng suy tôn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Quốc dân Đại hội Tân Trào là minh chứng sáng rõ nhất của tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc trong thời khắc đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn thiên tài đã hội tụ nhân lên, tạo sức mạnh to lớn giành chính quyền về tay nhân dân. Cũng với tinh thần yêu nước và đoàn kết mà nhân dân cả nước quyết tâm xóa nạn mù chữ, kịp biết chữ để đi bầu cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam mới trong bom đạn phá hoại của kẻ thù. Cũng với tinh thần yêu nước và đoàn kết mà khi khai mạc Quốc hội khóa I năm 1946, các đại biểu đã đồng ý với Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp nhận 70 ghế đại biểu dành cho Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội để có một Quốc hội thống nhất quyết định sớm nhất vị thế của nước Việt Nam mới, quan hệ bình đẳng với thế giới. Lúc này yêu nước, vì nước nhà là trên hết. Lúc này chỉ có lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của Quốc hôi đầu tiên, của mỗi người Việt Nam mới có thể giữ vững được chính quyền cách mạng đang ngàn cân treo sợi tóc để vững tin tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh đầy thử thách hi sinh bảo vệ đất nước sau này.

Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tại Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội năm 1946. Ảnh: hochiminh.vn

Với lời hiệu triệu của Bác Hồ “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, toàn thể nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. “Châu chấu đá voi” là cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi so sánh tương quan lực lượng quân sự giữa ta và Pháp trong những ngày đầu kháng chiến. Nhưng Bác cũng tin tưởng khẳng định “Bây giờ châu chấu đá voi/ Nhưng sau voi sẽ bị lòi ruột ra”. Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết thời điểm này đã kết nối các trí thức và các nhà tư sản Việt Nam tổ chức “tuần lễ Vàng”, ủng hộ Chính phủ kháng chiến đánh thực dân Pháp. Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc chiến đấu toàn dân toàn diện, lòng yêu nước, khát khao vì nền độc lập tự do của dân tộc đã thôi thúc bao con dân nước Việt đứng lên đánh thực dân Pháp cứu nước. Biết bao những chiến sỹ còn trẻ tuổi dù chưa phải là đảng viên, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn đã dũng cảm dấn thân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc; có nhiều người còn rất trẻ nhưng đã xông pha đánh địch ở nhiều trận tuyến dù bị địch bắt tra tấn dã man lòng vẫn trung trinh với Tổ quốc. Khi tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc được nhân lên, lực lượng Quân đội, lực lượng Công an lớn mạnh, nhân dân ta đoàn kết một lòng, đoàn kết với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới đã tập trung sức mạnh vô song chiến thắng quân đội thực dân Pháp bằng chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi.

Hình  ảnh nhân dân đón chào đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954. ẢNh Tư liệu

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta phải chiến đấu chống lại một kẻ xâm lược là đế quốc sen đầm quốc tế, giàu có, có tiềm lực quân sự nhất thế giới, lại được các nước chư hầu xa gần hỗ trợ, được chế độ phản động, tàn bạo làm tay sai. Lúc này cả dân tộc tập trung vào nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước. Lòng yêu nước trở thành chân lý như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Những năm tháng này với uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam được cả loài người tiến bộ đoàn kết, báo chí nước ngoài lên tiếng ủng hộ tạo nên một làn sóng lan rộng khiến kẻ thù hiếu chiến phải chùn bước. Ở trong nước lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam lúc này đã trở thành điểm hội tụ đoàn kết toàn dân tộc nhân lên sức mạnh to lớn đấu tranh với kẻ thù ngoại xâm. Vì chung một lòng yêu Tổ quốc, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái khác nhau, các giai cấp công – nông và tầng lớp trí thức… tất cả đoàn kết một lòng thực hiện nhiệm vụ cứu nước. Vì yêu nước, biết bao cán bộ, chiến sỹ và người dân trên cả hai miền Nam – Bắc đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh trên các mặt trận, trên nhiều trận tuyến. Họ tự nguyện ngã xuống không nghĩ gì cho mình. Lòng yêu nước đã dẫn lối hành động của họ dấn thân cho ngày toàn thắng. Chính sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết ấy đã giúp nhân dân Việt Nam làm nên chiến thắng lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

Những năm hòa bình đầu tiên, đất nước gặp muôn vàn khó khăn, thách thức. Đời sống nhân dân sau chiến tranh gặp nhiều vất vả, đói kém. Đất nước rơi vào khủng khoảng kinh tế xã hội trầm trọng, trong khi phải đối phó với hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Các thế lực thù địch bên ngoài chống phá quyết liệt. An ninh, trật tự trong nước phức tạp. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hơn lúc nào hết lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam càng trong khó khăn càng được phát huy và nhân lên sức mạnh mới. Và như lịch sử đã chứng minh, chúng ta đã vượt qua tất cả, vừa bảo vệ vững chắc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, vừa giúp nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt chủng Pol Pot, mở rộng quan hệ với nhiều nước, bảo đảm nền an ninh trật tự trong nước, đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống người dân, kiên định lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, vững tin bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Sau những kỷ nguyên giành độc lập, đấu tranh giải phóng đất nước, Việt Nam bước vào kỷ nguyên đổi mới và giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Quan hệ đối ngoại được mở rộng. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới, trong đó có các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chưa bao giờ đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay, để tự hào, tự tin bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam phát triển giàu mạnh và bền vững.

2. Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 80 năm thành lập Nước, với niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương lai, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới trong tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, trật tự đa cực xuất hiện đang trở thành xu thế. Các nước lớn đang chạy đua quyết liệt không chỉ trong lĩnh vực địa chính trị mà còn cả lĩnh vực kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa để giành quyền lợi và ảnh hưởng toàn cầu, các nước còn lại bị đẩy vào tình thế phải chọn phe và tìm biện pháp đối phó với các thách thức hiện tại, điểu chỉnh chiến lược để phát triển dài hạn, phù hợp với trật tự thế giới đang hình thành. Trước những thời cơ và thách thức đặt ra, Đảng và Nhà nước ta thực hiện quyết tâm chiến lược, đẩy nhanh tốc độ phát triển đất nước, tập trung vào bốn đột phá: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm gọi bốn Nghị quyết trên là “Bộ tứ trụ cột” để giúp chúng ta cất cánh.

Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta từng là sức mạnh to lớn quyết định thành công, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng 80 năm qua. Để sức mạnh ấy phát huy vai trò, tác nhân quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình, hơn lúc nào hết, cả dân tộc cần tiếp tục phải chung tay, đồng lòng và cẩn tiếp tục có những quyết sách, giải pháp mới. Theo nhiều nhà nghiên cứu, những giải pháp cơ bản nhằm phát huy sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết Việt Nam theo những định hướng sau đây:

Một là, cần tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về giá trị cao đẹp và sức mạnh to lớn của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Đây là một báu vật được hình thành, bồi đắp trong lịch sử, trở thành một giá trị vĩnh hằng, có sức mạnh to lớn trong hình thành dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước, cần được mỗi người dân nâng niu, phát huy. Mỗi người dân cần thấm thía giá trị lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đang tiềm tàng tự nhiên trong dòng máu của mỗi người Việt Nam. Mỗi khi đất nước, Tổ quốc bị giặc ngoại xâm đe dọa hoặc gặp khó khăn thử thách lớn thì lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết để giành chiến thắng.

Hai là, chúng ta biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã luôn coi trọng và nhân lên sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Bác Hồ và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam kết hợp lòng yêu nước và yêu hòa bình, luôn giữ tinh thần đoàn kết người Việt trong nước với kiều bào ta ở nước ngoài, đoàn kết trong nước và đoàn quốc tế, phát huy truyền thống hòa hiếu, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Mọi người dân Việt Nam trong và ngoài nước luôn thấu hiểu, chúng ta không xâm chiếm ai ngoài hình chữ S, nhưng cũng kiên quyết bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Lòng yêu nước của nhân dân ta đã biến khát vọng độc lập, tự do thành ý chí kiên cường, quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Ảnh minh họa

Ba là, Người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này, dù sống ở các nước, các chế độ khác nhau, nhưng phải luôn lấy tình yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc làm trụ cột để thực hiện Đại đoàn kết toàn dân tộc. Có người có thể có nhiều hộ chiếu, nhiều quốc tịch khác nhau nhưng ai cũng chỉ có một quê hương, một Tổ quốc. Yêu nước, yêu Tổ quốc là giá trị bất biến để thực hiện đoàn kết góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thế giới ngày nay.

Bốn là, Lấy tình yêu nước là gốc, luôn có thái độ tôn trọng sự khác biệt để thực hiện đoàn kết thực sự. Chúng ta tự hào ở Việt Nam không có xung đột tôn giáo và dân tộc, đó là một truyền thống quý báu cần giữ gìn và phát huy. Vì thế, cần coi trọng giữ gìn, phát huy sự đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, đoàn kết giữa các dân tộc, đoàn kết giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, đoàn kết giữa người cộng sản và người không cộng sản, tạo nên tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc vì tương lai đất nước.

Năm là, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thức XIV, chuẩn bị đội ngũ, quyết sách lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Lúc này, phải đoàn kết thực sự trong Đảng, coi sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết toàn dân tộc tạo sức mạnh quốc gia phát triển đất nước theo mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

80 năm qua, kể từ mùa thu Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dù tên Nước có thể thay đổi nhưng mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà Bác Hồ, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, đặt dưới Quốc hiệu không hề thay đổi. Mục tiêu cao đẹp và nhân văn ấy của Đảng trở thành mục tiêu quốc gia, bất biến, phù hợp với khao khát và ước vọng của mỗi người dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam từ ngàn đời xưa đến nay. Chính vì thế, mỗi người Việt Nam trong bất cứ khó khăn, thử thách nào đều tự nguyện ủng hộ Đảng, phát huy lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, hợp lực nhau để đấu tranh và chiến thắng, đưa đất nước vượt qua thác ghềnh để phát triển đi lên. Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết cũng vì thế trở thành giá trị quốc gia của người Việt. Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã có nhiều thành công trong thực hiện mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, để đến dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Nước, cả nước hân hoan đón ngày hội lớn với niềm vui khôn tả chứng kiến đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tầm vóc, sức mạnh và uy tín quốc tế như hôm nay. Nhân dân Việt Nam đều nhận biết, trong mọi thời kỳ lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn xác định mục tiêu của Đảng nhất quán, thống nhất với mục tiêu của dân tộc, lợi ích của Đảng phù hợp với lợi ích dân tộc như lời Bác Hồ dạy “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”[2]. Dù là kỷ nguyên nào đi nữa, nhân dân Việt Nam mong Đảng ta tiếp tục, kiên trì thực hiện mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, tiếp tục hoàn thiện sức mạnh lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết trở thành giá trị vĩnh cửu của quốc gia. Có sức mạnh giá trị quốc gia ấy, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu cao đẹp trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.■

       Nguyễn Hồng

Chú thích:

[1] Lịch sử Quốc hội, nxb CTQG ST, H . tập 1

[2] Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng” đăng trên Báo Nhân dân số 217, từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 8 năm 1954 với bút danh “C.B”.

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN