Tướng Leclerc và cuộc đàm phán với Việt Nam (Kỳ 2)

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam giành được chính quyền, Pháp đã ráo riết chuẩn bị cho quá trình khôi phục ảnh hưởng bằng sức mạnh quân sự. Trong khi các cuộc đàm phán diễn ra và những thương lượng về việc công nhận nền độc lập được tuyên bố, Pháp đồng thời đẩy mạnh chính sách vừa gây sức ép quân sự, vừa tìm kiếm một thỏa thuận bảo đảm lợi ích tuyệt đối của Pháp tại khu vực này. Bài viết Tướng Leclerc và cuộc đàm phán với Việt Nam đăng trên Revue historique des Armées số 227 xuất bản năm 2002 của Trung tá người Pháp Gilbert Bodinier thông qua các báo cáo của tướng Leclerc đã phân tích rõ những ý đồ của Pháp vào thời điểm đó. Tạp chí Phương Đông dịch và giới thiệu phần tiếp theo của bài viết, các từ ngữ, ý kiến trong bài được giữ nguyên văn nhằm đảm bảo tính khách quan.

Phô trương sức mạnh và đàm phán

Nhưng nếu tướng Leclerc tính đến việc sử dụng sức mạnh trên quy mô lớn thì đó không phải là để tái chinh phục Đông Dương như Đô đốc vẫn nghĩ, mà bằng cách lần lượt “gặm nhấm” từng tỉnh đang nằm trong tay những người theo chủ nghĩa dân tộc và khôi phục nguyên trạng trước đó.

Xuất phát từ việc phân tích tình hình ở Đông Dương, ông chủ trương sử dụng sức mạnh và trình bày trong một bức thư gửi Tướng De Gaulle ngày 18/10: “Tại sao những cuộc bạo loạn này lại sâu sắc, nghiêm trọng và lan rộng đến vậy? Bởi vì nước Pháp đã và vẫn còn bị coi là kẻ bại trận. Bại trận năm 1940 và vào tháng 3/1945. Làm thế nào để xóa bỏ niềm tin đó, điều kiện tiên quyết để chúng ta khôi phục vị thế tại đất nước này? Bằng cách phô trương sức mạnh của chúng ta; sau khi đã thể hiện sức mạnh ấy, chúng ta có thể đàm phán, trao tất cả những lợi ích mà ngài cho là chính đáng”. Còn ở miền Bắc, nơi tình hình thậm chí còn khó khăn hơn: “Tôi cho rằng chỉ có một phương pháp duy nhất, đó là một cuộc đổ bộ vũ trang vào Bắc Kỳ… Người dân Bắc Kỳ sẽ kháng cự, nhưng vấn đề sẽ nhanh chóng được giải quyết[1]”.

Nhưng vào cuối tháng 10, ông nói với Tướng Salan rằng không thể khôi phục trật tự cũ. Ông đưa cho Salan hai tài liệu, một tài liệu liên quan đến Philippines, trong đó Truman tuyên bố công nhận nước này là một quốc gia tự do với chính phủ riêng, nhưng vẫn đưa ra những bảo hộ liên quan đến các lĩnh vực kinh tế và quân sự, trong đó Hoa Kỳ vẫn duy trì các căn cứ. Tài liệu thứ hai cho biết Miến Điện sẽ trở thành một quốc gia có chế độ tự trị hoàn toàn trong Khối Thịnh vượng chung. Mặc dù là những quốc gia tự do, các nước này vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ và Anh, và đó chính là hướng Tướng Leclerc mong muốn giải quyết cho vấn đề Đông Dương.

Bích chương miêu tả tình hình Đông Dương giai đoạn 1940 – 1945 khi Nhật Bản đang là bên thắng thế. Nguồn: Sách “Ho Chi Minh: De l’Indochine au Vietnam” xuất bản năm 1990

Ngày 31/10, ông nói với Tướng Salan: “Kế hoạch của tôi hướng tới việc đổi mới; đã có quá nhiều biến động xảy ra, không thể duy trì trật tự cũ. Cần phải tìm ra một công thức mềm dẻo cho phép bảo tồn những gì cần được bảo tồn. Nhưng trước hết, phải tái chiếm với sự hỗ trợ của lực lượng chúng ta[2]”.

Pháp trở lại phía bắc Việt Nam trở thành mục tiêu cần thiết, bởi như Trung tá Repiton-Preneuf viết: “Cho dù những kết quả đạt được (ở miền Nam) có quan trọng đến đâu, chúng cũng không thể mang tính quyết định. Mọi thứ đều có thể bị đặt lại vấn đề chừng nào việc khôi phục những giá trị của Pháp chưa đạt được trên toàn Đông Dương (người ta nói đến việc khôi phục những giá trị của chúng ta, điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc khôi phục chủ quyền của chúng ta dưới hình thức nguyên trạng trước đây)”[3].

Chờ đợi: từ tháng 11/1945 đến tháng 1/1946

Đô đốc d’Argenlieu tới Sài Gòn ngày 30/10, Tướng Leclerc chỉ còn giữ quyền hạn quân sự của mình và bởi lẽ đó, những tài liệu có thể cho biết quan điểm của ông về thái độ cần áp dụng đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trở nên khan hiếm.

Trong một báo cáo gửi Tướng Juin ngày 31/12/1945, ông cho rằng “trong giai đoạn đầu, nước Pháp có thể khôi phục hoàn toàn quyền lực của mình ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ, cùng với chế độ bảo hộ của Pháp trên phần lớn lãnh thổ Lào. Toàn bộ đất nước này sẽ trở lại quỹ đạo của chúng ta khi chúng ta có thể đưa quân tới khu vực phía bắc đang bị người Trung Quốc chiếm đóng. Tại Bắc Kỳ, ít nhất chúng ta phải nắm giữ các cửa ngõ hàng hải và Hà Nội, nhưng những thành công quân sự đạt được ở miền Nam cho phép hi vọng nhiều hơn. Khi Pháp nắm trong tay nguồn gạo, than và chìa khóa của các cửa ngõ giao thương của Bắc Kỳ và Vân Nam, chúng ta sẽ ở vào một vị thế thuận lợi để đàm phán[4]”.

Trong một văn bản khác ngày 1/1/1946, ông cho biết tình hình tại Bắc Đông Dương đang xấu đi đáng kể nhưng vẫn có khả năng sẽ chuyển biến có lợi cho Pháp. Nếu vào thời điểm này Tướng Leclerc đã tính đến việc đàm phán với người Việt Nam, thì đó là sau khi đã nắm được những lợi thế cần thiết để tiến hành đàm phán với thế mạnh. Chính trong tháng 12, Tướng Leclerc bắt đầu tính toán việc tái chiếm miền Bắc vì Sư đoàn Bộ binh Thuộc địa số 3 đã có mặt vào tháng 1, và cũng trong tháng này, ông ấn định thời điểm đổ bộ miền Bắc[5].

Tướng quân đội Anh Douglas Gracey (phải) bàn giao quyền lực cho Tướng Pháp Philippe Leclerc bên ngoài Nhà thờ Sài Gòn năm 1945. Ảnh: Pictures from History

Cuối năm 1945, dường như Tướng Leclerc chưa lựa chọn giải pháp thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh để Pháp trở lại phía bắc. Đô đốc d’Argenlieu viết rằng, mặc dù Tướng Leclerc đồng ý với ông về bản chất của những vấn đề cần giải quyết, nhưng tại Hội đồng Quốc phòng, ông là “một trong những thành viên phản đối mạnh mẽ nhất việc các đại biểu của chúng ta sử dụng từ ‘độc lập’ khi đàm phán với Chính phủ An Nam. Tôi cho rằng quan điểm này là hợp lý[6]”.

Hướng tới một giải pháp thương lượng

Đầu năm 1946, Tướng Leclerc bắt đầu nghiêng về một giải pháp chính trị, khi nhận ra rằng tình hình đã diễn biến nhanh hơn rất nhiều so với những gì người ta tưởng ở Paris, và Pháp buộc phải thỏa hiệp với dòng trào lưu dân tộc chủ nghĩa. Theo Tướng Vézinet, chính những thông tin do Sainteny gửi về cùng lời kể của Pierre Messmer đã thuyết phục Tướng Leclerc rằng việc tái chinh phục miền Bắc là không thể thực hiện được và cần phải đàm phán với ông Hồ Chí Minh[7].

Sự thay đổi trong lập trường của Tướng Leclerc được thể hiện trong một bản ghi chú do Trung tá Repiton-Preneuf soạn thảo gửi tới Tướng De Gaulle ngày 14/1/1946: “Với những nhà lãnh đạo An Nam, chúng ta có thể, nếu chưa thể tiến hành đàm phán, thì ít nhất cũng có những cuộc tiếp xúc cá nhân, khi đối phương là Hồ Chí Minh và những nhân vật tiến bộ của Việt Minh, nói chung đều có nền văn hóa Pháp… Hồ Chí Minh, người nhìn thấy tình hình phản đối người Trung Quốc ngày càng sâu sắc ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ đang dần bị tái chiếm, có lẽ là người có thể tiếp cận được. Hồ Chí Minh không chỉ là đại diện cho riêng Việt Minh, mà là người đại diện cho toàn bộ các đảng phái trong chính phủ liên hiệp; với tư cách đó, những cuộc trao đổi sẽ có trạng thái tốt hơn so với trước đây (…) Không muốn đề cập tới lĩnh vực chính trị, lợi ích trước mắt của những cuộc trao đổi như vậy là ngăn chặn việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi chúng ta xuất hiện (…) Trong khi đó, tình trạng bất an kéo dài ở Bắc Kỳ ngoài nguy cơ khiến một lượng lớn quân đội bị giữ chân trong nhiều tháng, còn tạo điều kiện thuận lợi cho người Trung Quốc hành động (…)[8]”.

Một lần nữa cần phải nhấn mạnh yếu tố thời gian. Miền Bắc không thể chờ quá hai hoặc ba tháng để vấn đề của mình được giải quyết. Sau đó, mùa vụ đến và sẽ quá muộn để tiến hành các chiến dịch quân sự; tình hình chính trị nội bộ tại Hà Nội cũng như tình trạng vật chất và tinh thần của người Pháp chỉ có thể đi theo hướng ngày càng bất lợi cho nước Pháp. Những sự cố, vốn luôn có khả năng trở nên hết sức nghiêm trọng, có thể buộc Pháp phải can thiệp sớm hơn nhiều. Vì vậy, các công tác chuẩn bị quân sự được đẩy lên mức tối đa. Hoạt động ngoại giao và hoạt động chính trị phải được tiến hành nhằm đạt được một kết quả cụ thể, phù hợp với những công tác chuẩn bị này.

Đối với Tướng Leclerc, các cuộc đàm phán chính trị nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổ bộ vào miền Bắc. Mặc dù ông đi đến ý tưởng đàm phán khá muộn, nhưng một khi đã có ý định này, ông tỏ ra rất sốt sắng thúc đẩy nó càng nhanh càng tốt. Vì vậy, ngày 24/1, ông viết cho Tướng Salan: “Cũng cần phải thúc đẩy các cuộc trao đổi của chúng ta với Hồ Chí Minh. Một số yếu tố đáng lẽ phải có lợi cho chúng ta: trước hết là những thành công quân sự của chúng ta ở miền Nam, tiếp đến là mối quan hệ bắt đầu trở nên căng thẳng giữa các nhóm có lập trường chính trị khác nhau tồn tại ở An Nam; cuối cùng, có lẽ là xu hướng thiên tả của chính sách Pháp. Tôi nhấn mạnh tất cả những điểm này, bởi dường như Sainteny và các trợ lý của ông, những người đã tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong sáu tháng qua, đã đi vào ngõ cụt. Hãy xem liệu có thể tạo thêm một động lực mới hay không[9]”.

Tuy nhiên, đối với Tướng Leclerc, việc giải quyết vấn đề Trung Quốc mới là điều quan trọng hàng đầu. Nếu không đạt được bất kỳ thỏa thuận nào với Chính phủ VNDCCH, và ngay cả trong trường hợp Chính phủ này phản đối, quân Pháp vẫn sẽ tiến hành đổ bộ.

Trong cuộc gặp với Tướng Salan ngày 8/2/1946, sau khi được thông báo về việc quân Pháp sắp đổ bộ, Hồ Chí Minh nói rằng ông nhất định phản đối. Một bản ghi chú ngày 15/2 do Trung tá Repiton-Preneuf soạn thảo đã trình bày một kế hoạch về những hoạt động quân sự cần tiến hành chống lại Việt Minh. Nhưng mọi việc đều phải được làm để tránh đối mặt với việc chống đối trên quy mô toàn diện và để chỉ phải chiến đấu với những phe phái dân tộc chủ nghĩa cực đoan nhất.

Ngày 9/2, thay mặt Tướng Leclerc, Tướng Salan thúc giục Sainteny, Pignon cùng các Đại tá Le Porz và Repiton-Preneuf đẩy nhanh các cuộc thảo luận với Hồ Chí Minh. Ngày 11/2, khi báo cáo với Đô đốc d’Argenlieu và Tướng Leclerc về cuộc gặp của mình với Hồ Chí Minh, và cho biết rằng Hồ Chí Minh sẽ chấp nhận sự trở lại của nước Pháp nếu dân tộc của ông nắm quyền tự do, Tướng Leclerc tán thành. Tuy nhiên, Đô đốc d’Argenlieu tỏ ra dè dặt hơn nhiều, cho rằng cần phải sử dụng ngoại giao với người Trung Quốc, nhưng phải áp đặt sự trở lại của nước Pháp đối với Chính phủ VNDCCH. Trong hồi ký của mình, Tướng Salan nói thêm rằng Đô đốc không muốn hiểu mối nguy hiểm từ phía Việt Minh[10].

Jean Sainteny viết rằng “Leclerc biết và hiểu rằng nhiệm vụ của ông chỉ có thể kết thúc sau khi Lực lượng Viễn chinh do ông chỉ huy tái chiếm toàn bộ phần Đông Dương nằm ở phía bắc vĩ tuyến 16”. Nhưng ngay lập tức ông đã hiểu được mối nguy hiểm mà một chính phủ cách mạng rời khỏi Hà Nội rồi tiến vào hoạt động bí mật, cũng như một cuộc chiến đấu với quy mô toàn diện tại đồng bằng và các tỉnh phía Bắc Trung Bộ, có thể gây ra. Đó là điều ông đã chỉ ra trong những bức thư gửi cho Hồ Chí Minh, nhằm đạt được thỏa thuận chấp nhận việc quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Theo đó, Chính phủ VNDCCH tại Hà Nội vẫn tiếp tục được duy trì, dù đáng lo ngại nhưng vẫn ít nguy hiểm hơn so với trường hợp chính phủ này tiến hành chiến tranh du kích ở vùng Thượng du[11].

Ngày 13/2, Đô đốc d’Argenlieu lên đường tới Paris, chuyển giao quyền hạn của Cao ủy cho Tướng Leclerc, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉ đạo các cuộc đàm phán. Về phần mình,Ttướng Leclerc gửi chỉ thị cho Sainteny và Tướng Salan.

Theo Tướng Vézinet, dưới sự cố vấn của Paul Mus và Trung tá Repiton-Preneuf, Tướng Leclerc cho rằng cần tận dụng thiện chí của ông Hồ Chí Minh. Phù hợp với tính cách của mình, Leclerc trực tiếp đảm nhiệm việc phối hợp giữa hành động quân sự và đàm phán chính trị, đồng thời tăng cường các phái bộ ngoại giao giữa Sài Gòn, Hà Nội và Trùng Khánh. Ông chỉ thị cho cấp dưới phải đạt được kết quả, và vì vậy không được để mình bị cuốn vào những vấn đề chi tiết; mọi sự chậm trễ trong việc đổ bộ đều có thể gây ra những nguy hiểm nghiêm trọng và làm phương hại đến các chiến dịch. Trước những lời phản đối, ông trả lời: “Tất cả những chuyện này chỉ là lời lẽ suông, các anh tự xoay xở thế nào thì xoay! Bằng mọi giá, hãy làm sao để chúng ta đổ bộ vào Bắc Kỳ ngày 6/3[12]”.

Tướng Leclerc quyết định đẩy nhanh tiến trình đàm phán, như ông giải thích trong một bức điện gửi Đô đốc d’Argenlieu ngày 14/2; Đô đốc chỉ nhận được bức điện này vào ngày 18, vì ông mới tới Paris vào tối ngày 17: “Những tin tức mới nhất từ Hà Nội xác nhận rằng người An Nam ngày càng sẵn sàng hoặc nhượng bộ nếu được đáp ứng về từ ‘độc lập’, hoặc chuyển sang một cuộc chiến tranh theo kiểu kháng chiến của Pháp, có thể kéo dài nhiều năm, ngăn cản mọi thành quả chính trị và hành chính có giá trị, đồng thời làm suy giảm uy tín của lực lượng Pháp vừa được khẳng định ngày hôm nay.

Tôi cho rằng tình thế hiện nay là thời điểm thuận lợi nhất để đưa ra một tuyên bố theo hướng này. Thật vậy, nếu nhượng bộ về từ ngữ này cách đây bốn tháng thì đó sẽ là sự đầu hàng và là lời thú nhận về sự bất lực. Hiện nay, chúng ta đã tái khẳng định chủ quyền và sức mạnh của Pháp, đã lập lại trật tự ở Nam Kỳ, Campuchia và một phần Lào và An Nam, đồng thời chúng ta sắp tiến đến cửa ngõ Bắc Kỳ với một lực lượng mạnh. Chúng ta có thể, với đầy đủ chủ quyền và với điều kiện có lợi nhất, nói chuyện với người An Nam và đưa ra những nhượng bộ.

Người An Nam chấp nhận dưới từ ‘độc lập’ điều mà chúng ta đề xuất dưới từ ‘tự trị’. Nền độc lập này sẽ được trao trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp và sẽ không chỉ liên quan đến An Nam, Bắc Kỳ mà cả Nam Kỳ, Lào và Campuchia.

Tôi cho rằng nếu từ này được nói ra, thì phần lớn vấn đề sẽ được giải quyết; người An Nam sẽ giữ được thể diện mà uy tín và ảnh hưởng của chúng ta không bị suy giảm. Trên bình diện quốc tế, cùng với việc nhanh chóng bình định tình hình, chúng ta sẽ đưa ra bằng chứng về mong muốn phát triển của mình trong lĩnh vực chính sách thuộc địa và sẽ tránh được việc đưa vấn đề Đông Dương ra trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Nếu người An Nam từ chối, vị thế quốc tế của chúng ta vẫn không thể bị công kích.

Kết luận, tôi cho rằng chính lúc này, trước khi đổ bộ vào Bắc Kỳ – tôi nhắc lại, trước khi đổ bộ – là thời điểm thích hợp để chính phủ đưa ra một tuyên bố rõ ràng, trong đó có từ độc lập[13]”.

Bằng việc sử dụng từ “độc lập”, Tướng Leclerc đã đi xa hơn rất nhiều so với những chỉ thị mà Đô đốc d’Argenlieu đưa ra cho các cuộc đàm phán; và chính vì lý do này mà các cuộc đàm phán đã rơi vào bế tắc. Theo Tướng Vézinet, nhiều cán bộ cấp cao, cả dân sự lẫn quân sự, vốn ủng hộ ưu thế mang tính đế quốc của Pháp, gặp rất nhiều khó khăn trong việc từ bỏ quan niệm rằng hành động quân sự không phải là mục đích tự thân, mà là một phương tiện phục vụ cho một chính sách. Đô đốc d’Argenlieu đồng thuận với những người này. Vào tháng 1, ông thậm chí còn phàn nàn với Tướng De Gaulle về những khuynh hướng đầu hàng của tướng Leclerc, và sau này ông nói với tướng Valluy rằng ông ngạc nhiên khi thấy “những người chỉ huy của một lực lượng viễn chinh tuyệt vời như vậy lại thích thương lượng hơn là chiến đấu[14]”.

Khi nhận được bức điện ngày 14/2, trong đó Tướng Leclerc đề nghị sử dụng từ “độc lập”, Đô đốc d’Argenlieu cho biết ông còn ngạc nhiên hơn cả Tướng Alphonse Juin, bởi ngay trước ngày rời đi, ông đã giải thích lý do tại sao mình loại bỏ từ này trong một bản ghi nhớ gửi cho Sainteny, và Tướng Leclerc khi đó không hề phản đối. Đô đốc nói thêm: “Trong suốt bốn tháng, Leclerc đã cùng tôi cho rằng việc thừa nhận nền độc lập của An Nam là điều không hợp lý, vậy mà giờ đây ông lại muốn đưa ‘Độc lập’ vào một văn bản có khả năng ràng buộc toàn bộ tương lai của nước Pháp và các quốc gia liên hiệp ở Đông Dương[15]”.

Năm 1946, khi các cuộc đàm phán với Pháp về công nhận nền độc lập của ba nước Đông Dương đang diễn ra, Vệ quốc đoàn tổ chức diễu binh trước cột cờ Hà Nội. Ảnh: Keystone France

Nhưng cũng trong ngày hôm đó, 18/2, một bức điện của Tướng Leclerc, được gửi đi từ ngày hôm trước, tới nơi, thông báo rằng Hồ Chí Minh đề xuất quyền tự quyết chính phủ. Ông yêu cầu Paris phải đưa ra câu trả lời ngay lập tức: “Thật vậy, tuyên bố này của Hồ Chí Minh xác nhận nhận định của chúng ta rằng đây càng là thời điểm để Chính phủ Pháp đưa ra một đề xuất bí mật và rõ ràng, nhất là khi chúng ta đạt được một lợi ích rất đáng kể là thấy từ ‘độc lập’ biến mất[16]”.

Ngày 18/2, Sainteny tới Sài Gòn để báo cáo với Tướng Leclerc về cuộc gặp mà từ đó đã dẫn tới việc gửi bức điện nói trên. Tướng Leclerc chỉ thị cho ông phải đi đến kết quả vào đầu tháng 3 và nói thêm: “Không thể để ông Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ kháng chiến cũng như quay trở lại hoạt động bí mật. Ông ta muốn khi chúng ta tới Hà Nội, người ta trao cho ông một chính phủ – và khi ấy, liệu còn có khả năng nào khác nữa không?[17]”

Đối với Tướng Leclerc, thỏa thuận này hoàn toàn không phải là mục đích tự thân, mà là một phương tiện để hòa bình trở lại miền Bắc. Vì vậy, ngày 20/2, ông gửi cho tướng Juin bức điện bày tỏ ý kiến cá nhân sau đây: “Không biết bầu không khí hiện tại ở Paris và vẫn chưa nhận được câu trả lời cho bức điện ngày 17/2 của tôi, tôi muốn lưu ý ông về mối nguy hiểm sau đây: đó là một số thành phần trong chính phủ, và thậm chí có lẽ cả Đô đốc d’Argenlieu, cho rằng vì các cuộc đàm phán đã kết thúc, việc đưa quân Pháp tới Bắc Kỳ theo đúng kế hoạch đang được triển khai là không cần thiết hoặc nguy hiểm”. Việc đưa quân lên các tàu bắt đầu ngay trong ngày hôm đó.

“Tôi cho rằng quan niệm này hết sức nguy hiểm, bởi ngay khi hành động cứng rắn của quân đội Pháp chứng minh được ưu thế của người Pháp và buộc chính phủ này phải đầu hàng, thì chính sự hiện diện của quân đội cũng sẽ buộc họ thực hiện, không chần chừ hay mặc cả, các điều kiện của thỏa thuận; nếu không, chúng ta sẽ mất thể diện và những lợi thế đạt được hoàn toàn bằng sức mạnh trong những tháng vừa qua. Tôi nói thêm rằng hành động của quân đội Pháp cũng tuyệt đối liên quan mật thiết với vấn đề Trung Quốc[18]”.

Đô đốc d’Argenlieu chấp nhận những đề nghị do Hồ Chí Minh đưa ra và ngày 20/2 gửi cho Sainteny một bản ghi nhớ đã được Ủy ban Liên bộ về Đông Dương thông qua, trong đó quy định:

– Pháp công nhận quyền của Việt Nam được thành lập một chế độ tự quản trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

– Pháp sẽ cung cấp các cố vấn cho Việt Nam.

– Việt Nam bảo đảm duy trì các lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp.

– Chính phủ Hà Nội tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận quân đội Pháp, lực lượng sẽ thay thế quân đội Trung Quốc.

– Nam Kỳ sẽ tự quyết định vị trí của mình trong quan hệ với Việt Nam.

Đô đốc bổ sung thêm những chỉ thị riêng:

1. Pháp sẽ đại diện cho Việt Nam ở nước ngoài và chịu trách nhiệm bảo vệ các lợi ích của Pháp cũng như của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Pháp không đưa ra lập trường về việc thống nhất ba Kỳ. Nam Kỳ sẽ tự do bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề này; điều đó cũng không có nghĩa là “nước Pháp công nhận việc sáp nhập Trung Kỳ với Bắc Kỳ là một sự hợp nhất mang tính quyết định[19]”.

Khi chuyển văn bản này cho Sainteny, Leclerc nói thêm: “Ông phải tận dụng tối đa thái độ của Hồ Chí Minh, đồng thời cân nhắc đúng mức những bảo lưu liên quan đến việc sáp nhập Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thật vậy, tôi cho rằng điều quan trọng hàng đầu là không được làm phương hại đến toàn bộ cuộc đàm phán chỉ vì vấn đề này, bởi giải pháp cho nó có thể được xử lý sau. Điều quan trọng là, trong khi chấm dứt chiến sự, chữ ký của Hồ Chí Minh phải được mọi người hiểu rõ như một thắng lợi của nước Pháp. Muốn vậy, chỉ có một cách: quốc kỳ Pháp phải được đưa trở lại vị trí của nó ở Bắc Kỳ.

Vì vậy, ông còn phải cùng với Tướng Salan, Hồ Chí Minh và cuối cùng là người Trung Quốc nghiên cứu những biện pháp cần thiết để tránh các sự cố. Vấn đề chủ yếu là chúng ta không được gặp quân Việt Minh trên tuyến đường Hải Phòng – Hà Nội và khu vực giữa hai nơi này. Hãy tập trung họ vào các doanh trại hoặc đưa họ ra khỏi các tuyến đường. Hãy để Hồ Chí Minh ra lệnh cho những đơn vị của ông ta vẫn còn đang hoạt động chống lại chúng ta phải ngừng bắn. Điều đó sẽ cho phép chúng ta tích cực hơn trong việc thúc đẩy các cuộc đàm phán đang diễn ra.

Theo tôi, còn quá sớm để yêu cầu những cuộc tập trung quân Việt Minh phức tạp. Tuy nhiên, việc tập hợp họ lại là điều đáng mong đợi, đồng thời cho họ thấy khả năng, một mặt, được quân đội Pháp cung cấp tiếp tế nếu có thể; mặt khác, về sau có thể gia nhập lực lượng quân đội liên bang. Đương nhiên, hãy hứa ban mọi ân xá mà ông muốn, trừ những trường hợp đặc biệt.

Còn người Trung Quốc thì sao? – ông sẽ hỏi tôi như vậy. Tôi hy vọng ông đã làm việc đôi chút với Lư Hán. Dù tình hình đàm phán có thế nào đi nữa, tôi vẫn sẽ tới đúng ngày dự kiến. Ban đầu tôi định tới Hải Phòng. Hãy cho tôi biết, để tạo được tiếng vang cần thiết, liệu có nên tới thẳng Hà Nội ngay hay không[20]”.

Mục đích của Tướng Leclerc là đặt chân tới miền Bắc Việt Nam trong những điều kiện thuận lợi nhất, chứ không phải giải quyết ngay những vấn đề khác nhau trong tranh chấp Pháp – Việt; tuy nhiên, việc đổ bộ sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy quá trình giải quyết những vấn đề đó.

Trong cuộc gặp với Sainteny ngày 18/2, ông nói rằng không nên gắn việc đổ bộ với một thỏa thuận chính thức đầy đủ, nếu không thì có thể sẽ phải chờ thêm nhiều tháng nữa. Ngày 25/2, Tướng Leclerc viết cho Trung tá Repiton-Préneuf: “Vì Chúa, bằng bất cứ cách nào, hãy đạt được việc chúng ta đổ bộ vào Bắc Kỳ[21]”. Ông cũng nói với Tướng Salan rằng ông sẽ chấp nhận bỏ lỡ chuyến ra khơi ngày 5/3 vì chưa đạt được chữ ký của người Trung Quốc, nhưng ngày cuối cùng có thể tiến hành là 10 hoặc 11/3.

Sau khi đạt được thỏa thuận Pháp – Trung ngày 28/2/1946 quy định việc rút lui của quân Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, tháng 3/1946, một hạm đội tàu chiến Pháp đang chuẩn bị đổ bộ vào cảng Hải Phòng bất ngờ bị quân Trung Hoa bắn trả.

Ông quyết tâm đánh cược tất cả, nhưng lo ngại rằng khi Đô đốc trở lại Sài Gòn, nếu không cảm thấy mình được chính phủ ủng hộ, ông ta có thể do dự không cho Leclerc lên đường. Ông nói thêm: “Điều chúng ta muốn không phải là một cuộc thay quân, mà là quân đội Pháp sẽ trở lại Bắc Kỳ; hai điều đó hoàn toàn không giống nhau[22]”.

Cuối cùng, Tướng Juin đã bật đèn xanh với sự đồng ý của Đô đốc. Ngày 27/2, cũng là ngày Đô đốc d’Argenlieu trở lại, Tướng Leclerc viết cho Tướng Salan: “Hãy khuyến khích Sainteny thúc đẩy các cuộc đàm phán với ông Hồ Chí Minh. Chúng ta sẽ xuất hiện ở Hải Phòng ngày 6/3. Hãy tiến hành các cuộc đàm phán theo hướng đó. Tôi sẽ tuân theo tất cả những đề xuất của các ông nhằm tránh xung đột hoặc khó khăn với người Trung Quốc hay người An Nam”.

Trong một bản ghi chú do bộ tham mưu của ông soạn thảo ngay trong ngày hôm đó: “Đương nhiên, để đưa chúng ta trở lại Bắc Kỳ trong những điều kiện tốt nhất có thể, chúng ta phải áp dụng mọi biện pháp có thể để tránh những sự cố với người Trung Quốc và Việt Minh, tránh làm phật ý họ mà ngược lại, phải khéo léo chiều theo họ[23]”.

Ngày 1/3, khi Hồ Chí Minh hòa dịu hơn, Tướng Salan, theo yêu cầu của Sainteny, soạn một bản ghi chú trong đó nêu rõ rằng các lực lượng Pháp được đưa tới để thay quân sẽ tham gia vào việc xây dựng quân đội Việt Nam. Cũng trong ngày hôm đó, ông điện báo cho Tướng Leclerc rằng, nếu đạt được thỏa thuận với Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ có Việt Minh đứng về phía mình, nhưng cần phải lo ngại trước sự thù địch của các phần tử dân tộc chủ nghĩa.

Sáng ngày 5/3, vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào với cả người Trung Quốc lẫn người Việt Nam, trong khi việc đổ bộ phải diễn ra vào ngày hôm sau. Vì vậy, Trung tá Lecomte trao cho Sainteny một bức thư, yêu cầu ông phải đạt được thỏa thuận bằng mọi giá: “Hi vọng duy nhất mà chúng ta có để thay đổi thái độ của người Trung Quốc là thông báo cho họ về việc chúng ta đã ký kết một thỏa thuận giữa Pháp và chính phủ An Nam. Xét mức độ nghiêm trọng của tình hình và quy mô của cuộc xung đột có thể xảy ra, tôi khẩn thiết yêu cầu ông, nhân danh tướng Leclerc – người đã trao cho tôi quyền nói điều này với ông – làm tất cả những gì có thể để sớm đạt được một thỏa thuận, cho dù phải dùng những cách sau đó có thể bị phủ nhận”.

Vào thời điểm này, Tướng Leclerc và phái viên của ông, Trung tá Lecomte, đã thay thế vị đô đốc. “Không còn nghi ngờ gì rằng sự can thiệp này đã khiến đô đốc d’Argenlieu phật ý[24]”, Tướng Valluy ghi nhận. Nhưng cuộc đàm phán bị đình trệ do những yêu sách của Leclerc về vấn đề Nam Bộ. Ngày 3/3, ông vẫn chỉ thị cho Sainteny rằng Nam Bộ phải tự quyết định lập trường của mình thông qua một cuộc tham vấn tự do.

Phụ lục thỏa thuận quân sự

Những nhượng bộ mà Sainteny đưa ra về quân số của lực lượng thay thế quân đội Trung Quốc và các điều kiện triển khai lực lượng này đã giúp tháo gỡ tình thế bế tắc. Sainteny viết cho Tướng Leclerc: “Tôi tin rằng dù sao chúng ta cũng đang nắm được phần chủ động, nhưng sẽ cực kỳ sát sao! Tôi đã nhượng bộ (thực ra cũng chẳng có gì nhiều), để tránh một sự cố nghiêm trọng vào ngày mai tại Hải Phòng. Việc đưa 10.000 người An Nam vào lực lượng thay thế dưới quyền chỉ huy của ông đã làm thay đổi cục diện. Giờ đây, tôi chỉ còn mong rằng Chính phủ An Nam ngày mai sẽ chấp nhận dự thảo và (…) rằng Đô đốc sẽ không phủ nhận tôi quá mạnh[25]”.

Đô đốc d’Argenlieu ngạc nhiên khi thấy trong các thỏa thuận được ký ngày 6/3 có một chương trình quân sự quy định quân số và việc rút số quân này theo tỷ lệ một phần năm mỗi năm, cũng như đề xuất mở ngay một cuộc đàm phán tại Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris. Đô đốc hoàn toàn có lý do để ngạc nhiên về nội dung các thỏa thuận, bởi không một thành viên nào trong đội ngũ của ông tham gia vào các cuộc đàm phán với người Trung Quốc cũng như với người Việt Nam. Tướng Leclerc đã nghiêm khắc viết cho Tướng Juin rằng “những người xung quanh vị đô đốc, vốn chẳng mấy tài giỏi, không ngừng chỉ trích ông vì sự bất lực hoàn toàn của ông trong việc giải quyết tất cả những vấn đề này[26]”.

Tuy nhiên, đến 14 giờ ngày 6/3, Đô đốc d’Argenlieu đã đồng ý. Tuy vậy, ông yêu cầu Sainteny không công khai thỏa thuận phụ lục, nhưng lúc đó đã quá muộn; đồng thời ông yêu cầu giải thích về cách soạn thảo văn bản này. Sainteny trả lời rằng không thể thay đổi các điều khoản mà không đặt toàn bộ việc ký kết vào tình thế bị đe dọa, trên thực tế cũng không thể yêu cầu ông cho phép trước.

Chính phủ không mấy hài lòng với nội dung của thỏa thuận bổ sung, cũng như việc bị đặt vào thế “ván đã đóng thuyền”. Nhưng vị đô đốc bảo vệ những người đàm phán, nói rằng họ buộc phải đáp ứng yêu cầu của Hồ Chí Minh về điểm này, nếu không sẽ không thể có được chữ ký của ông. Tuy nhiên, ông cũng như Tướng Leclerc cho rằng có thể chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận để tổ chức lực lượng Pháp ở Đông Dương một cách tốt nhất.

Tướng Leclerc cũng đứng ra bảo vệ cấp dưới của mình. Ông điện báo cho Tướng Juin: “Mục tiêu đã có thể đạt được nhờ những thắng lợi của chúng ta ở miền Nam, nhưng cũng nhờ công việc đáng ghi nhận của Sainteny, Tướng Salan, Trung tá Repiton tại Hà Nội và Trung tá Crépin tại Trùng Khánh (…). Tôi muốn báo cáo điều này với ông, vì tôi biết rằng Tướng Salan đã bị công kích mặc dù ông ấy đã hoàn thành một công việc xuất sắc[27]”. Về phần mình, ông này nói rằng thỏa thuận quân sự phụ lục chẳng liên quan gì đến những đề xuất của ông về việc thay thế quân đội Trung Quốc ngày 1/3. Ông nói với Pignon: “Tôi sẽ bị Paris chửi cho một trận, nhưng phải ký”.

Trong báo cáo ngày 20/3, Pignon viết rằng người Việt Nam cho rằng quân số được đề xuất cho lực lượng thay thế là quá lớn: 25.000 người. Sainteny đưa ra một phương án thỏa hiệp: 15.000 người Pháp và 10.000 người Việt Nam. Do người Việt Nam không chấp nhận sự hiện diện của quân đội Pháp tại Hà Nội dưới bất kỳ hình thức nào, người Pháp buộc phải đưa ra những nhượng bộ để đổi lại: Salan đề xuất thời hạn thay thế là 10 năm; Nguyễn Hải Thần muốn rút xuống còn 3 năm; cuối cùng hai bên thống nhất 5 năm.

Sau này, Pignon kể lại: “Ý chí của Bộ chỉ huy rằng muốn đổ bộ bằng mọi giá vào đúng ngày này đã quyết định việc ký kết thỏa thuận và giải thích cho việc soạn thảo vội vàng các văn bản (…). Nhiều cuộc tiếp xúc sơ bộ cuối cùng đã dẫn đến một sự thỏa hiệp vội vã và mang tính ứng biến do hoàn cảnh: cuộc đổ bộ vào một ngày triều dâng, lực lượng của tướng Leclerc tại Hải Phòng, nghĩa vụ phải ký một thỏa thuận trước khi đổ bộ, nếu không sẽ có nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột cực kỳ nghiêm trọng – mà trên thực tế, chỉ vừa đủ tránh được vào phút chót[28]”.

Không hơn gì Đô đốc d’Argenlieu, Tướng Leclerc cũng không được tham khảo ý kiến về các điều khoản của thỏa thuận phụ lục, và ông đã viết cho vị Đô đốc: “Tôi cho rằng thỏa thuận quân sự phụ lục đi vào quá nhiều chi tiết, những chi tiết có thể ràng buộc tương lai”.

Trong bức thư mà Trung tá Mirambeau trao cho Đô đốc d’Argenlieu vào tối ngày 9/3, ông nói rõ: “Thỏa thuận phụ lục về các vấn đề quân sự rõ ràng là chưa hoàn hảo. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi cho rằng nó có thể làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hữu ích và tương lai vẫn còn rộng mở, bởi người Đông Dương vẫn giữ khả năng gia nhập các lực lượng Pháp; sự tồn tại của những ‘căn cứ’ cho phép đưa ra mọi cách diễn giải cần thiết nhằm bảo vệ các lợi ích của Pháp. Tuy nhiên, tôi trách thỏa thuận này ở chỗ một mặt nó đã trộn lẫn những vấn đề trước mắt – cụ thể là việc thay thế quân đội Trung Quốc và sử dụng lực lượng Việt Minh để lập lại trật tự; mặt khác là những vấn đề về tổ chức lâu dài của quân đội Việt Nam, vốn chỉ có thể được giải quyết trong một thời hạn dài hơn nhiều và dĩ nhiên không thể xử lý chỉ bằng một vài nét bút. Nhưng xét những khó khăn phải giải quyết thì đây đã là một kết quả đáng kể (…). Nếu chúng ta biết giữ được gạo và cao su của Nam Kỳ, cảng Sài Gòn và các cảng ở Bắc Kỳ, thì những người cách mạng ở An Nam buộc phải dần dần dịu xuống[29]”. Vài giờ sau, ông nói thêm: “Còn về thỏa thuận quân sự, tôi ngày càng tin rằng, trong quá trình thực hiện, có thể làm giảm nhẹ những bất lợi của nó”.

Ngày 10/3, ông viết cho Tướng Salan: “Bất kể những khiếm khuyết của thỏa thuận Pháp – An Nam, điều cốt yếu đã đạt được nhờ ông và Sainteny, đó là ngăn chặn sự đổ vỡ và việc tiến vào hoạt động bí mật”. Tại Hải Phòng ngày 16/3, ông nói với Salan: “Các thỏa thuận là các thỏa thuận, và cũng như mọi văn bản khác, chúng vẫn có thể được thảo luận. Điều cấp thiết là phải mở một cuộc tranh luận rộng rãi ở cấp cao nhất và tại Paris”. Sau đó, ông nói thêm: “Nhưng điều nghiêm trọng là lập trường mà đô đốc đưa ra tại Sài Gòn về cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ đang cần cân nhắc lại[30]”.■ (Còn tiếp)

Gilbert Bodinier

Lê Hằng Nga dịch

Chú thích:

[1] P.Huard, Le corps léger d’intervention en Indochine, 1943 – 1986, 1988, tr. 359

[2] R.Salan, Mémoires. Fin d’un empire. Tome 1. Le sens d’un engagement, 1970, tr.174

[3] Repition – Preneuf, Lời khai lưu trữ tại Cơ quan Lịch sử Lục quân Pháp, T198, tr.28

[4] 239 K4. Bodinier, Le retour de la France en Indochine. 1945 – 1946. Textes et documents, Cơ quan Lịch sử Lục quân Pháp

[5] Repition – Preneuf, đã dẫn, tr.47

[6] D’Argenlieu, Chronique Indochine, 1945 – 1947, 1985, tr.137

[7] Tướng Vézinet, Le général Leclerc de Hauteclocque Maréchal de France, 1947, tr.201, 209

[8] Repiton – Preneuf, đã dẫn, tr.54, 56 và Vézinet, đã dẫn, tr.210

[9] Salan, đã dẫn, tr.280

[10] Salan, đã dẫn, tr.292

[11] J. Sainteny, Histoire d’une paix manquée, Indochine, 1945 – 1947, 1967, tr.187 – 188

[12] Vézinet, đã dẫn, tr.211, 213

[13] 10 H 143. Bodinier, đã dẫn,  tr.208

[14] Vézinet, đã dẫn, tr.212

[15] D’Argenlieu, đã dẫn, tr.155-156

[16] 4 Q 1 d.3 và 10 H 143. Bodinier, đã dẫn

[17] Repiton – Preneuf, đã dẫn, tr.59 – 60

[18] 4 Q 1 d.3

[19] 10 H 143. Bodinier, đã dẫn, tr.212

[20] Ph. Devillers, De Gaulle et l’Indochine, tr. 142-143

[21] Repiton – Preneuf, đã dẫn, tr.60

[22] Salan, đã dẫn, tr.302-303

[23] 10 H 163. Bodinier, đã dẫn, tr.213

[24] Tướng Valluy, “Indochine – octobre 1945 – mars 1947, Revue des Deux Mondes – số 1 tháng 11/1967, tr.19

[25] Leclerc. CI 46-47 – 27/002

[26] 4 Q 1 d.3

[27] 10 H 163 d.3. Bodinier, đã dẫn, tr.228

[28] Léon Pignon, Académie des Sciences d’Outre – Mer, 1988, tr.41

[29] D’Argenlieu, đã dẫn, tr.201

[30] Salan, đã dẫn, tr.346

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN