Năm 2014, khi Narendra Modi lên cầm quyền ở Ấn Độ, trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có rất nhiều thay đổi, biến động trên cả hai bình diện xã hội và tự nhiên, ông đã đề xuất ý tưởng “xây dựng đất nước Ấn Độ mới”. Để thực hiện ý tưởng trên, N. Modi đã khuyến khích mọi người dân Ấn Độ vượt lên chính mình, khởi xướng sự thay đổi bằng sự tham gia của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực với tinh thần tự chủ, tự cường. Trong thời kỳ này, Ấn Độ tiếp tục đề cao chính sách tự chủ chiến lược nhằm khai thác triệt để các cơ hội mà thế giới và toàn cầu hóa mang lại để phát triển đất nước, với tham vọng đưa Ấn Độ thành quốc gia 5.000 tỷ USD và vươn tới là “cường quốc” khu vực và thế giới.
Về chính trị – đối ngoại
Dưới thời Thủ tướng N. Modi, Ấn Độ đã có bước chuyển chủ trương đối ngoại từ “không liên kết” sang “đa liên kết”, mở rộng quan hệ với các quốc gia như một biện pháp của tự chủ chiến lược. Ấn Độ chủ trương hợp tác với các quốc gia khác nhau trong những vấn đề khác nhau, tạo ra sự linh hoạt, đảm bảo khả năng duy trì sự tự chủ chiến lược.
Ông N. Modi đã tạo nên những thay đổi chưa từng có trong chính sách của Ấn Độ. Ông Modi đã đưa Ấn Độ thực sự bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa với chính sách Ấn Độ “đa liên kết”. Ông tuyên bố, sự liên kết này “không phải là ý thức hệ. Điều đó mang lại cho chúng tôi khả năng linh hoạt, cho chúng tôi khả năng duy trì quyền tự chủ quyết định của mình”.
Chính sách “đa liên kết” của Ấn Độ tập trung vào ba nội dung chính: (1) Tăng cường mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế thế giới, các nước láng giềng phía Đông; (2) Chủ động đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực và thế giới; (3) Theo đuổi các nguyên tắc và hệ giá trị riêng. Ông N. Modi tiếp tục triển khai ba nội dung được đề ra dưới thời Thủ tướng M. Singh này một cách triệt để, tích cực với nhiều cách tiếp cận mới. Cụ thể:
Thứ nhất, Ấn Độ tăng cường mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế thế giới, các nước láng giềng phía Đông nhằm tận dụng các nguồn lực bên ngoài phát triển kinh tế, hiện đại hóa quốc phòng, phát triển đất nước.
Thủ tướng Ấn Độ N. Modi nhấn mạnh, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng cao, việc “mở rộng đối tác chính là một biện pháp tự chủ chiến lược”, chính vì thế, thời kỳ này, Ấn Độ hết sức chú trọng mở rộng quan hệ đối tác, đối tác chiến lược với các nước.
Điều chỉnh quan hệ với các nước lớn: Sự điều chỉnh quan hệ với các nước lớn thể hiện rất rõ tư duy tự chủ chiến lược của Ấn Độ, nhằm mục tiêu: (1) nâng quan hệ chiến lược với các nước lớn lên đúng tầm, từ đó tạo điều kiện cho Ấn Độ trở thành một lực lượng quan trọng trong bàn cờ chính trị toàn cầu; (2) tái sắp xếp “bàn cờ” khu vực Nam Á, củng cố tầm ảnh hưởng bao trùm của Ấn Độ trong khu vực; (3) tăng cường hợp tác với các nước lớn và các nước láng giềng, hướng tới mục tiêu và lợi ích an ninh và kinh tế của Ấn Độ.

Điều chỉnh quan hệ với Mỹ: Dưới thời N. Modi, Ấn Độ đã vượt qua “sự do dự trong lịch sử” để tạo nên sự thay đổi về chất trong mối quan hệ Ấn Độ – Mỹ, khẳng định sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ “không liên kết” sang “đa liên kết”, trong đó quan hệ Ấn Độ – Mỹ được coi là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao khả năng tự chủ chiến lược của Ấn Độ. Trong bối cảnh phải xử lý các cuộc xung đột ở những khu vực biên giới, Ấn Độ đã tìm cách nâng mối quan hệ song phương với Mỹ lên một cấp độ mới. Sự thành công trong chính sách đối ngoại của Thủ tướng Modi với Mỹ đã chấm dứt tình trạng mâu thuẫn về chính trị giữa hai nước, mang lại những mục tiêu rõ ràng cho Ấn Độ, ngược lại, Mỹ cũng coi Ấn Độ là trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ. Trong chuyến thăm Mỹ vào tháng 6/2016 của Thủ tướng Modi đã “đặt ra một tầm nhìn mới cho tương lai”, Ấn Độ đã vượt qua nỗi do dự về việc xúc tiến quan hệ hợp tác chặt chẽ và sâu sắc hơn với Mỹ. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Tổng thống Mỹ D. Trump tháng 2/2020, hai bên đã ký Bản ghi nhớ hợp tác trên lĩnh vực y tế và Thỏa thuận hợp tác giữa Công ty Dầu khí quốc gia Ấn Độ với một số tập đoàn dầu khí của Mỹ, hai bên quyết tâm hợp tác phòng tránh và ứng phó với dịch bệnh Covid-19; tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, tiếp tục dự án hợp tác song phương về đưa người lên vũ trụ, khám phá không gian, khai thác thương mại không gian…
Sự thay đổi này của Ấn Độ đã làm cho nước Mỹ rất coi trọng Ấn Độ. Sự coi trọng Ấn Độ được thể hiện trong nhiều chính sách quan trọng cũng như trong các phát biểu của các quan chức Chính quyền Mỹ. Chính quyền của Tổng thống D. Trump đưa ra Chiến lược Nam Á và Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhấn mạnh vai trò then chốt của Ấn Độ trong khu vực, đặt Ấn Độ ngang hàng với các đồng minh của mình trong Khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong việc trao đổi các công nghệ nhạy cảm. Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương do Chính quyền của Tổng thống Mỹ J. Biden công bố vào tháng 02/2022 đã xếp Ấn Độ vào nhóm đối tác hàng đầu Mỹ cần quan hệ. Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng năm 2023 của Mỹ có điều khoản đề cập đến việc làm sâu sắc quan hệ với Ấn Độ, tăng cường quan hệ đối tác với Ấn Độ, hỗ trợ Ấn Độ giảm phụ thuộc vào Nga về quân sự, năng lượng.
Để gia tăng lợi ích của mình, Mỹ khuyến khích Ấn Độ đóng vai trò lớn hơn ở khu vực, quốc tế và trong các cơ chế đa phương do Mỹ dẫn dắt, đặc biệt là vai trò dẫn dắt của Ấn Độ ở khu vực Nam Á trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Mỹ bày tỏ ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, gia nhập nhóm các nhà cung cấp hạt nhân. Mỹ khuyến khích Ấn Độ tham gia tích cực hơn trong QUAD, nhằm nâng cao khả năng hợp tác của QUAD: tổ chức thành công 04 Hội nghị Thượng đỉnh trong 2 năm, triển khai chương trình 1 tỷ liều vaccines ngừa Covid-19, công bố sáng kiến quan hệ đối tác về nhận diện không gian biển (IPMDA)…
Điều chỉnh quan hệ với Nga: Một đồng minh chiến lược, một đối tác truyền thống, có tiềm năng quân sự – quốc phòng hàng đầu thế giới, được Ấn Độ chú trọng củng cố quan hệ. Trong Chiến tranh Lạnh, Liên Xô cũ vừa là nhà cung cấp vũ khí chính vừa là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga vẫn là đối tác quan trọng của Ấn Độ. Thủ tướng Modi hiểu rằng, mối quan hệ vững chắc với Nga là điều cốt yếu đối với sự cân bằng chính sách đối ngoại của Ấn Độ, để thúc đẩy quan hệ của Ấn Độ với các cường quốc khác, và để kiềm chế một Trung Quốc tham vọng hơn. Vì thế, Thủ tướng Modi đã có những hành động làm ấm lại quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.
Trong chuyến thăm đầu tiên của Thủ tướng Modi tới Nga từ ngày 23 đến 24/12/2015, hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quốc phòng và năng lượng (ký 15 văn kiện hợp tác, 6 biên bản ghi nhớ).
Tại Đối thoại Raisina vào ngày 17/01/2017, Modi khẳng định “Nga là một người bạn lâu dài. Quan hệ đối tác đáng tin cậy và chiến lược của hai nước… đã trở nên sâu sắc hơn”. Trong chuyến thăm Nga đầu tháng 6/2017, Thủ tướng Modi đã xúc tiến ký 12 thỏa thuận hợp tác với Nga trong các lĩnh vực: thương mại, phát triển cơ sở hạ tầng (đường sắt), khoa học công nghệ và văn hóa, phía Nga cam kết sẽ hỗ trợ Ấn Độ xây dựng hai lò phản ứng cuối cùng trong nhà máy điện hạt nhân lớn nhất Ấn Độ.
Khi Nga tiến hành “chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine tháng 2/2022, dù Tổng thống Mỹ Joe Biden đã trực tiếp nói chuyện với Thủ tướng Ấn Độ N. Modi trước “cuộc họp 2+2” giữa Ấn Độ và Mỹ trong đó có đề cập đến vấn đề Ukraine, cũng như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ L. Loyd Austin và Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken gia tăng sức ép lên Ấn Độ chống lại Nga, nhưng Ấn Độ vẫn giữ vững lập trường trung lập, kiên trì tự chủ chiến lược, đảm bảo cho đất nước duy trì tốt quan hệ với Nga, từ đó làm cho đất nước ổn định, phát triển.
Điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc: Ấn Độ luôn cố gắng giải quyết những thách thức chiến lược do Bắc Kinh đặt ra thông qua hợp tác song phương 3 và đối thoại. Sau khi đắc cử, Thủ tướng N. Modi cam kết kiên quyết can dự mạnh mẽ hơn vào khu vực. Trong quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ thực hiện chính sách vừa mềm dẻo, linh hoạt, khôn khéo, vừa cứng rắn.
Đột phá mang dấu ấn lịch sử trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời Chính quyền Modi là chủ động cải thiện, mở rộng, thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc nhằm chấn hưng nền kinh tế, tận dụng tối đa quyền lực mềm, tăng cường thương mại và thu hút đầu tư từ Trung Quốc vào Ấn Độ. Thủ tướng Modi, một mặt, tiếp tục thúc đẩy hợp tác quan hệ Ấn – Trung, mặt khác, có những động thái quân sự cứng rắn như củng cố sức mạnh quân sự, tăng cường khả năng phòng thủ quốc gia; thắt chặt quan hệ an ninh, quân sự với Mỹ, các nước đồng minh, các nước trong và ngoài khu vực, không hề do dự khi đối phó với những hành động khiêu khích của Trung Quốc. Tháng 5/2015, trong chuyến thăm Bắc Kinh, phát biểu tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, ông đã nhắc đến vấn đề “giấc mơ liên kết” của Ấn Độ và Trung Quốc và “kiểu quan hệ mới giữa các nước lớn” và đề cập đến việc Trung Quốc sử dụng Pakistan như một “sân sau” ở Nam Á. Tháng 5/2017, ông Modi đã từ chối đến thăm Trung Quốc để bàn bạc về việc thành lập mạng lưới giao thông cho dự án “Con đường tơ lụa mới”. Ít lâu sau đó, New Delhi trực tiếp đối đầu với Bắc Kinh trên cao nguyên Doklam (Bhutan), đánh dấu sự thay đổi trong chiến lược phòng thủ truyền thống của Ấn Độ đối với Trung Quốc. Thế nhưng, khi Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, bị phương Tây bao vây, cấm vận nhiều lĩnh vực, nhất là về dầu mỏ và khí đốt, để cân bằng quan hệ, Ấn Độ lại chủ động nhập dầu từ Nga và đồng ý thanh toán bằng tiền tệ của Trung Quốc.
Thứ hai, Ấn Độ chủ động đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực và thế giới Ấn Độ chủ động, tích cực tham gia vào các diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế, tích cực phát huy vai trò lãnh đạo các quốc gia đang phát triển trên nhiều diễn đàn.
Ông N. Modi dành sự quan tâm đặc biệt cho các tổ chức khu vực, dành tâm huyết kết nối chính trị với các nước láng giềng với tâm huyết “láng giềng là ưu tiên số một”, thúc đẩy hợp tác và hội nhập khu vực để giúp Ấn Độ đóng vai trò tích cực hơn trong SAARC.
Các tổ chức khu vực khác như ASEAN, IOR (Ấn Độ Dương), WANA (các nước Tây Á và Bắc Phi) đều trở thành những trọng điểm chiến lược của Ấn Độ11. Các tổ chức khu vực có khả năng tạo nên “liên kết chùm” rộng lớn hơn, nối dài cánh tay của Ấn Độ đến các khu vực xa xôi nhưng đầy tiềm năng của châu Á, góp phần mở rộng thị trường, tăng cường vị thế và sức mạnh kinh tế, quân sự của Ấn Độ.
Ấn Độ cũng tham gia tích cực và có chọn lọc vào một số cơ chế do Trung Quốc khởi xướng, như Nhóm các nền kinh tế lớn mới nổi (BRICS), nhằm tăng cường vị thế chiến lược trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc; đồng thời, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường của Ấn Độ tại khu vực châu Á.
Hiện nay, Ấn Độ là nước duy nhất tham gia vào nhiều cơ chế tập hợp lực lượng có tính đối lập và cạnh tranh với nhau; là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng: Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, Nhóm Bộ tam Nga – Trung Quốc – Ấn Độ, BRICS, QUAD…
Thứ ba, theo đuổi nguyên tắc và hệ giá trị riêng, Modi hết sức chú trọng bảo vệ những giá trị đạo đức, tư tưởng mà Ấn Độ luôn tin tưởng trước sự tấn công mạnh mẽ của toàn cầu hóa và đa phương hóa. Chính phủ của Thủ tướng Modi đề cao giá trị của sự tự chủ, nỗ lực để không bị chi phối và nghe theo sự sai khiến của bất cứ thế lực bên ngoài nào và đề cao sự cân bằng trong quan hệ quốc tế (đó là cân bằng về sức mạnh của Ấn Độ với các cường quốc khác trên thế giới, đồng thời là cân bằng về tầm ảnh hưởng của các cường quốc này đối với Ấn Độ), ủng hộ một trật tự thế giới đa cực, tích cực hành động vì một châu Á đa cực, chống lại chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc để châu Á không chịu sự thống trị của một quyền lực duy nhất, mà trở thành sự cân bằng của nhiều trung tâm quyền lực.

Chủ trương tự chủ chiến lược của Ấn Độ gần đây được thể hiện rõ nét trong Tầm nhìn của Ấn Độ về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, khẳng định ủng hộ đa cực ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và trên thế giới, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, mong muốn tăng cường quan hệ với tất cả các nước lớn trên cơ sở “ba cùng”, đó là: cùng nhạy cảm về lợi ích của nhau, cùng tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
Tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (FOIP) của Ấn Độ là bước đi nâng cấp toàn diện của chính sách “láng giềng trước tiên” và sau đó là chính sách “láng giềng mở rộng” của Ấn Độ. FOIP của Ấn Độ là sự phát triển và tích hợp các chủ trương “láng giềng trên hết”, sáng kiến “an ninh và phát triển cho tất cả các nước trong khu vực Ấn Độ Dương” (SAGAR) và chính sách “Hành động hướng Đông” với một tầm nhìn bao quát cả khu vực rộng lớn từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương…
Ấn Độ tiếp tục triển khai chính sách “tự chủ chiến lược” với các nước lớn, trên cơ sở đưa ra lập trường riêng về chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cho rằng, chiến lược này bao trùm cả khu vực phía Tây Ấn Độ Dương, các nước Vùng Vịnh Péc-xích, các quốc đảo trên biển A-rập và châu Phi, qua đó cho phép Ấn Độ hợp tác với cả khu vực Đông Á lẫn Vùng Vịnh Péc-xích và châu Phi, đưa Ấn Độ trở thành trung tâm của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
2. Về kinh tế
Để tự chủ chiến lược, Ấn Độ cần phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó, kinh tế lớn mạnh và quân sự phát triển là trụ cột chính.
Chiến lược “Ấn Độ tự cường” của Thủ tướng Modi là một cách tiếp cận tổng thể nhằm giúp nền kinh tế Ấn Độ tự cấp, tự túc và tự chủ. Chiến lược này dựa trên 5 trụ cột: Một là, phát triển nền kinh tế mới, đưa Ấn Độ trở thành nền kinh tế 5.000 tỷ USD thông qua thúc đẩy chiến dịch “Sản xuất tại Ấn Độ – Sản 5 xuất cho thế giới” (“Make in India – Make for the World”) và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Cộng đồng doanh nghiệp Ấn Độ được khuyến khích phát triển các mối liên hệ sâu rộng với thế giới dựa trên các kế hoạch phát triển quốc gia và quan hệ chính trị tốt đẹp giữa Ấn Độ với các đối tác sẽ tạo điều kiện cho những quan hệ kinh tế này và sẽ giúp cho thay đổi cấu trúc nền kinh tế cũng như nâng sự hội nhập kinh tế Ấn Độ lên tầm cao mới. Hai là, tạo dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Ấn Độ mong muốn trở thành quốc gia hiện đại với kết cấu hạ tầng đẳng cấp quốc tế thông qua chiến lược “Ấn Độ tự cường”: Ấn Độ sẽ đầu tư mạnh vào kết cấu hạ tầng sản xuất; Kết cấu hạ tầng giao thông (trong đó, kết cấu hạ tầng đường sắt và đường bộ) sẽ có vai trò quan trọng giúp cho các nhà máy hoạt động liên tục, vận chuyển thành phẩm từ nhà máy đến thị trường, giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng lợi ích kinh tế của sản phẩm, giảm thiểu thiệt hại cho các sản phẩm trong quá trình vận chuyển; Kết cấu hạ tầng đất đai, cảng biển để hỗ trợ cho nhu cầu xuất khẩu cũng tăng lên. Ba là, thiết lập hệ thống phân phối dựa trên công nghệ, coi khoa học công nghệ là chìa khóa để hiện thực hóa chiến lược “Ấn Độ tự cường”. Trong đại dịch Covid-19, Ấn Độ đã đóng góp vào việc sản xuất các máy trợ thở, thuốc khử trùng, thuộc điều trị covid như Remdesvir… Ấn Độ phấn đấu không chỉ là nơi “sử dụng tri thức”, áp dụng những ứng dụng tốt nhất trên thế giới mà còn là một “nhà sản xuất tri thức. Bốn là, tận dụng dân số trẻ. Với hơn 850 triệu người trong độ tuổi lao động, Ấn Độ có nguồn lao động tiềm năng lớn nhất thế giới. Năm là, khai thác hiệu quả nhu cầu trong nước.

Trong quan hệ với các nước, đặc biệt, các nước lớn, Ấn Độ giữ vững lập trường “trung lập” không đứng về bên nào, quan hệ hợp tác với tất cả các nước để tận dụng nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là khoa học công nghệ, cho sự phát triển kinh tế, quân sự… nước mình. Ấn Độ và Mỹ tăng cường trao đổi thương mại, kim ngạch thương mại năm 2021 tăng gần 33% so với năm 2020. Trong Diễn đàn Chính sách thương mại song phương tháng 11/2021, cả Mỹ và Ấn Độ đều nhất trí tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho một loạt sản phẩm nông nghiệp. Mỹ đồng ý xem xét đề xuất của Ấn Độ về việc phục hồi cơ chế ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP)… Còn với Nga, bất chấp lệnh cấm vận của Mỹ trong chiến tranh Nga – Ucraina, Ấn Độ tiếp tục đẩy mạnh việc mua dầu thô từ Nga và khẳng định không chính trị hóa các giao dịch dầu mỏ hợp pháp của Ấn Độ. Refinitiv – một công ty của Tập đoàn giao dịch chứng khoán London (Anh) ước tính khoảng 3,36 triệu tấn dầu thô Nga đã đến Ấn Độ vào tháng 5/2022, gấp 9 lần trung bình tháng 5/2021.
3. Về quốc phòng, an ninh
Ấn Độ thấy rõ, để đảm bảo quyền tự chủ chiến lược, để có uy thế và tiếng nói trên trường quốc tế thì củng cố sức mạnh quân sự lớn mạnh là một trong những yếu tố quan trọng. Từ sau Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ hết sức chú trọng tăng cường sức mạnh quân sự. Các Thủ tướng Ấn Độ trước thời Modi đều thúc đẩy quan hệ với Mỹ, nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng “không liên kết” nên còn do dự khi đề cập đến các thỏa thuận hợp tác, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Thỏa thuận quốc phòng LEMOA (Biên bản Thỏa thuận trao đổi hậu cần) giữa Ấn Độ và Mỹ được đưa ra từ năm 2004, nhưng vấp phải phản đối của nhiều thành viên trong Chính phủ nên trải qua nhiều cuộc đàm phán, thương lượng, vẫn chưa được ký kết. Chuyến thăm Mỹ vào tháng 6/2016 của Thủ tướng Modi đã mở ra “một tầm nhìn mới cho tương lai” cho quan hệ Ấn-Mỹ với việc giải quyết ổn thỏa những vấn đề phức tạp như hợp tác năng lượng hạt nhân dân sự để nâng cao đáng kể hợp tác quốc phòng. Thỏa thuận LEMOA ký với Mỹ cũng trong năm 2016 cho phép quân đội hai nước có thể sử dụng căn cứ quân sự của nhau để thực hiện việc tiếp nhiên liệu, sửa chữa và nghỉ ngơi, qua đó nâng cao khả năng phối hợp giữa quân đội hai nước, mang lại lợi ích cho cả Ấn Độ và Mỹ. Thỏa thuận LEMOA giúp New Delhi bao quát các cơ sở hậu cần từ vịnh Tokyo đến Bahrain, đồng nghĩa với việc giúp Ấn Độ mở rộng hoạt động khắp Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, góp phần nâng cao khả năng tự chủ chiến lược của Ấn Độ.
Trong chuyến thăm Ấn Độ của Tổng thống Mỹ D. Trump vào tháng 2/2020, hai bên đã ký nhiều hợp tác quan trọng, đặc biệt, hai bên đạt được thỏa thuận mua vũ khí trị giá 3 tỷ USD, bao gồm việc Ấn Độ từ nay có thể mua những loại trực thăng chiến đấu thế hệ mới nhất của Mỹ, như MH-60R, AH 64E và nhiều thiết bị quân sự khác của Mỹ. Hai bên cũng cam kết tăng cường hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực chống khủng bố, tội phạm mua bán người, mua bán trái phép ma túy, an ninh hàng hải, an ninh mạng.
Ấn Độ và Mỹ cam kết đẩy mạnh hợp tác về công nghiệp quốc phòng, phát triển trang bị quân sự, tăng cường tập trận chung, chia sẻ thông tin và hợp tác hậu cần giữa quân đội hai nước. Mỹ cung cấp nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại cho Ấn Độ, trong đó có máy bay chiến đấu đa năng MH-60R; cam kết hỗ trợ để Ấn Độ trở thành nhân tố đảm bảo an ninh khu vực.
Việc Mỹ và Ấn Độ thiết lập Cơ chế Đối thoại “2+2” giữa các bộ trưởng ngoại giao và bộ trưởng quốc phòng hai nước, cũng như việc ký kết Thỏa thuận trao đổi hậu cần (LEMOA) và Thỏa thuận về tính tương thích và bảo mật truyền thông (COMCASA), việc khởi động cuộc tập trận chung Mỹ – Ấn Độ lần đầu tiên có sự tham gia của cả ba quân chủng không quân, lục quân và hải quân… cho thấy những tiến triển mạnh mẽ trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chính quyền của Tổng thống D. Trump cũng đưa ra cả Chiến lược Nam Á và Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhấn mạnh vai trò then chốt của Ấn Độ trong khu vực, đặt Ấn Độ ngang hàng với các đồng minh trong Khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong việc trao đổi các công nghệ nhạy cảm.
Nga vẫn là đối tác quốc phòng lớn nhất của Ấn Độ, là nhà cung cấp năng lượng, công nghệ hạt nhân và vũ khí quan trọng của Ấn Độ. Trong lúc khéo léo thúc đẩy quan hệ với các nước lớn, Ấn Độ cũng thể hiện thái độ kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia, như tiếp tục hoàn tất tiếp nhận hệ thống phòng không S-400 từ Nga – đối tác quốc phòng truyền thống số 1 của Ấn Độ – bất chấp sức ép trừng phạt từ Mỹ. Cuối năm 2018, bất chấp những đe dọa trừng phạt của Mỹ, Ấn Độ đã ký kết hợp đồng mua tên lửa S-400 với trị giá 6 tỷ USD của Nga. Tuy nhiên, ngay sau đó, Ấn Độ đã chủ động xoa dịu Mỹ bằng cách đồng ý giảm số lượng nhập khẩu dầu từ Iran. Hành động quyết đoán này của Ấn Độ cho thấy sự khéo léo của Ấn Độ trong quan hệ với các nước lớn và cho thấy sự quyết tâm của Ấn Độ khi muốn khẳng định vị thế nước lớn của mình. Ấn Độ cũng quyết định bỏ phiếu trắng hoặc phiếu chống trong một số dự thảo nghị quyết tại Liên hợp quốc liên quan đến “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ucraine. Tuy nhiên, Ấn Độ cũng tăng cường tự chủ chiến lược trước Nga về nguồn cung vũ khí bằng cách đa dạng hóa, tăng tỷ trọng nhập khẩu vũ khí từ Mỹ để giảm sự phụ thuộc vào Nga về nguồn cung.
Mục tiêu của đa dạng hóa hợp tác quốc phòng là nhằm giúp Ấn Độ tăng cường tự chủ chiến lược về quốc phòng, tự phát triển công nghiệp quốc phòng. Ngày 2/9/2022, Thủ tướng Ấn Độ N. Modi đánh giá việc Ấn Độ biên chế tàu sân bay nội địa đầu tiên IRS Vikrant là ví dụ điển hình của tự chủ trong lĩnh vực quốc phòng trên cơ sở hợp tác công nghệ và mua máy bay tiêm kích của Nga, Pháp, Mỹ, đánh dấu Ấn Độ đã gia nhập các nước có thể sản xuất tàu sân bay lớn bằng công nghệ nội địa. Với hơn 75% bộ phận của tàu được phát triển trong nước, tàu IRS Vikrant là biểu tượng của ngành quốc phòng nội địa Ấn Độ, là biểu tượng của năng lực, nguồn lực và kỹ năng bản địa.
Như vậy, tự chủ chiến lược là nguyên tắc xuyên suốt của Ấn Độ, mặc dù biểu hiện của nó ở mỗi thời kỳ một khác nhau. Nếu như trong thời kỳ thế giới hai cực trong Chiến tranh Lạnh, tự chủ chiến lược đồng nghĩa với “không liên kết” và “không liên kết” được coi như là phương tiện hữu hiệu để Ấn Độ độc lập, tự chủ, là nước đứng đầu thế giới thứ ba đi con đường riêng không theo “cực” nào thì trong thời kỳ thế giới đơn cực sau Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ đã xem xét lại chính sách “không liên kết” và chính sách đối ngoại “đa liên kết” đã manh nha từ những năm 2000, dần dần trở thành xu hướng chính, đặc biệt từ khi N. Modi lên cầm quyền năm 2014. Thủ tướng Modi kêu gọi các nhà ngoại giao cấp cao của Ấn Độ “đưa Ấn Độ giữ vai trò lãnh đạo chứ không chỉ là một lực lượng cân bằng trên toàn cầu”. Ấn Độ chỉ có thể có được vị thế này khi nền tảng kinh tế lớn mạnh, hội nhập khu vực rộng lớn hơn; thể chế nhà nước và năng lực quân sự của Ấn Độ thực sự vững vàng.■
PGS.TS. Lê Văn Toan*
*Giám đốc sáng lập Trung trâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Ủy viên BCH Hội Hữu nghị Việt Nam – Ấn Độ; Giảng viên cao cấp Đại học Phương Đông.