Trước khi Chiến tranh Thế giới thứ II bùng nổ, đã diễn ra nhiều hoạt động gián điệp góp phần dẫn đến cuộc tấn công Trân Châu Cảng cũng như bản thân cuộc chiến. Bài viết này phân tích 4 trong số những chiến dịch tình báo quan trọng nhất chống lại nước Mỹ – trong đó hai chiến dịch do chính các công dân Hoa Kỳ phản bội Tổ quốc thực hiện, và hai chiến dịch còn lại do các sĩ quan tình báo chuyên nghiệp của Đức và Nhật Bản tiến hành. Thiệt hại mà 4 điệp viên này gây ra đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ là không thể đo đếm được, song những hoạt động đó cũng trở thành một phần quan trọng trong lịch sử tình báo thế giới.
Buổi sáng ngày 7/12/1941, lực lượng hải quân Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng ở Hawaii, khiến hơn 2.300 quân nhân Mỹ thiệt mạng. Hoa Kỳ đã bị bất ngờ và không hề được cảnh báo trước về cuộc tấn công. Để làm được điều này, Nhật Bản đã phải chuẩn bị từ nhiều năm trước đó, đặc biệt là về mặt tình báo và gián điệp. Các tài liệu được giải mật từ Cơ quan Tình báo Hải quân Hoa Kỳ và Cục Điều tra Liên bang (FBI) tiết lộ rằng các điệp viên của Nhật và Đức đã hoạt động tại Trân Châu Cảng từ rất lâu trước cuộc tấn công định mệnh khiến Mỹ chính thức tham chiến.
John S. Farnsworth
John S. Farnsworth tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 1915. Ông ta từng chỉ huy Phi đội quan sát Thủy quân lục chiến số 6, Hạm đội trinh sát của Phi đội máy bay, sau đó bị cách chức chỉ huy vào năm 1927 và bị đưa ra tòa án binh vì tội uống rượu, đánh bạc và “quỵt tiền”, và bị đuổi khỏi quân đội.
Được xác định là “Điệp viên K” trong các tin nhắn vô tuyến bị Văn phòng Tình báo Hải quân Hoa Kỳ (ONI) chặn bắt, Farnsworth đã bị kết tội làm gián điệp cho Nhật Bản trong thập niên 1930. Sau khi bị đưa ra tòa án binh năm 1927, ông ta cần tiền và được tuyển dụng làm gián điệp cho Nhật Bản – quốc gia vốn đã tìm cách tuyển dụng người Mỹ làm gián điệp từ những năm 1920 và 1930.
Farnsworth đã chuyển thông tin cho những người Nhật phụ trách mình: Trung tá Yoshiyuki Ichimiya, trợ lý Tùy viên Hải quân tại Đại sứ quán Nhật Bản (từ tháng 10/1932 đến tháng 12/1934); và Trung tá Arika Yamaki, người kế nhiệm Ichimiya cho đến tháng 11/1935. Farnsworth sau đó khai rằng ông ta được trả 100 đô la một tuần cộng với chi phí cho hoạt động gián điệp của mình. Ông lấy hầu hết thông tin từ các cộng sự cũ, xin tài liệu và nói rằng mình cần thông tin cho “các bài viết trên tạp chí”. Farnsworth cũng thu thập thông tin từ vợ của các sĩ quan cấp cao. Ông ta thậm chí còn lên một tàu khu trục ở Annapolis, giả vờ say rượu và vờ là chỉ huy để lừa một Thiếu úy cung cấp dữ liệu điều động. Sau đó, ông ta vội vã chuyển dữ liệu về Đại sứ quán Nhật Bản để sao chụp và trả lại vào ngày hôm sau.

Khi Farnsworth đánh cắp một cuốn sách hướng dẫn mật của Hải quân Hoa Kỳ, bên trong có các kế hoạch về thông tin và chiến thuật chiến đấu, ông ta đã chụp lại cuốn sách và bán cho người Nhật vào tháng 5/1935. Điều này đã làm dấy lên một số nghi ngờ và ONI bắt đầu điều tra.
Các sĩ quan ONI được biết Farnsworth đã chi tiêu nhiều khoản tiền lớn. Cuộc điều tra cho thấy ông ta đã “mượn” các sách mật mã và tín hiệu, đồng thời liên tục hỏi về chiến thuật, các thiết kế tàu và vũ khí mới. Khi vợ của một sĩ quan cấp cao sống tại Annapolis phàn nàn với ONI rằng Farnsworth liên tục yêu cầu bà cho phép ông ta đọc các tài liệu chính thức, ông ta đã bị cả ONI và FBI giám sát đồng thời.
Farnsworth bị buộc tội bán thông tin mật cho Nhật Bản. Ngày 27/2/1937, John S. Farnsworth bị kết án từ 4 đến 12 năm tù vì tội âm mưu “giao tiếp và chuyển giao cho một chính phủ nước ngoài – tức Nhật Bản – các tài liệu, sách mật mã, ảnh và kế hoạch liên quan đến quốc phòng quốc gia để chúng được sử dụng với mục đích gây tổn hại cho Hoa Kỳ”. Ông ta thụ án 11 năm tù và qua đời tại Manhattan ở tuổi 59.
Harry T. Thompson
Cựu Thượng sĩ hành chính Hải quân Hoa Kỳ Harry T. Thompson đã bị Hải quân sa thải vì những vấn đề liên quan đến rượu chè, chi tiêu quá mức và “ham muốn những chàng trai trẻ cuốn hút”. Ông ta được người Nhật chiêu mộ và đã sử dụng bộ quân phục dành cho sĩ quan cấp cao mua tại một tiệm may gần căn cứ để được vào các căn cứ và tàu chiến của Mỹ. Thompson đã có được tài liệu hướng dẫn sử dụng pháo binh và các báo cáo về pháo 8 inch được trang bị trên tàu USS Pensacola, chiếc đầu tiên trong lớp tàu tuần dương mới của Mỹ.
Đến cuối năm 1934, Thompson đã có thể lên một số tàu chiến ở trong nước Mỹ, nơi ông ta thu thập được lịch trình điều động hàng quý của các tàu chiến và tàu tuần dương, cùng thông tin về dàn pháo chính, ngư lôi và các thông tin tình báo tương tự khác. Tháng 12/1934, Thompson lên tàu USS Mississippi và đánh cắp một ấn phẩm dày 230 trang của trường huấn luyện pháo binh Hải quân Hoa Kỳ từ một hồ sơ mật. Tháng sau, ông ta lại lên con tàu này và đánh cắp báo cáo về dàn pháo chính và ngư lôi.
Bạn trai cũ của Thompson đã tiết lộ xu hướng tính dục đồng giới của ông ta với các quan chức Hải quân. Thompson bị giám sát cho đến khi thu thập được thêm bằng chứng.
Ông ta bị thẩm vấn về những hoạt động đáng ngờ của mình và thú nhận đã làm gián điệp cho Nhật Bản. Khi ONI yêu cầu Thompson hợp tác với tư cách điệp viên hai mang (phản gián) nhưng không thành công, ông ta đã bỏ trốn bằng tiền do người Nhật cung cấp. Thompson bị bắt vào giữa năm 1936, bị kết tội gián điệp và bị kết án 15 năm tù giam.
Bernard Julius Otto Kuehn
Bernard Julius Otto Kuehn (1895-1956) cùng vợ và gia đình là các điệp viên làm việc cho Cơ quan tình báo quân sự Đức Quốc xã – Abwehr. Năm 1935, Bộ trưởng Tuyên truyền Đức Joseph Goebbels đề nghị Kuehn làm việc cho tình báo Nhật Bản tại Hawaii. Ông ta chấp nhận và đưa cả gia đình đến Honolulu vào tháng 8 năm đó. Gia đình Kuehn bao gồm Tiến sĩ Kuehn, 41 tuổi; vợ ông là Friedel; con gái Susie Ruth, 17 tuổi, được đồn từng là tình nhân của Goebbels; cùng hai con trai Hans Joachim và Eberhard.
Con gái của Kuehn, Susie Ruth, hay hẹn hò với các quân nhân Hoa Kỳ và điều hành một tiệm làm đẹp. Vợ của các quân nhân cấp cao thường đến tiệm và thoải mái buôn chuyện về các hoạt động của chồng và bạn trai họ.

Cậu con trai 11 tuổi của Kuehn, Hans Joachim, được cha huấn luyện để đặt những câu hỏi chính xác về tàu chiến và tàu ngầm, đồng thời ghi chép những khu vực quan trọng trên các tàu này. Mỗi buổi sáng, Bernard cho Hans mặc trang phục thủy thủ Hải quân Hoa Kỳ để thể hiện “lòng yêu nước” và họ sẽ đi bộ dọc bờ sông. Các sĩ quan sẽ mời Hans lên tàu chiến và tàu ngầm chơi, và cậu bé sẽ thu thập thông tin tình báo ở đó.
Công việc của Friedel, vợ của Kuehn, là ghi lại tất cả thông tin tình báo mà gia đình thu thập được. Sau đó, Kuehn sử dụng một hệ thống gồm 8 tín hiệu, được kết hợp với nhau theo nhiều cách khác nhau, để gửi các thông điệp được mã hóa đến các lãnh sự quán Nhật Bản.
Kuehn, một thành viên của Đảng Quốc xã, đến Hawaii vào năm 1935, và đến năm 1939, FBI và Quân đội Mỹ bắt đầu nghi ngờ ông ta. Ông ta có những mối liên hệ đáng ngờ với người Đức và người Nhật. Ông ta tiếp đãi các quan chức quân sự Hoa Kỳ rất nồng hậu, thể hiện sự quan tâm quá mức đến công việc của họ. Ông ta có hai căn nhà ở Hawaii và rất nhiều tiền, nhưng không có nguồn thu nhập nào rõ ràng.
Khi điệp viên bậc thầy người Nhật Takeo Yoshikawa đến Honolulu, Tiến sĩ Kuehn sẽ gửi các thông điệp mã hóa từ ngay căn phòng áp mái trong ngôi nhà của mình – một hệ thống không bị phát hiện cho đến sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Tuy nhiên, một điệp viên Nhật Bản tuyên bố rằng Kuehn có kỹ năng gián điệp kém và không đủ tiêu chuẩn cho công việc mà Goebbels đã chọn. Anh ta cảm thấy Kuehn sẽ tham gia vào các hoạt động gián điệp ngay cả khi có nguy cơ bị bắt, và các thông tin mà ông ta cung cấp cho người Nhật không có giá trị lớn. Tuy nhiên, những người khác cho rằng vào ngày 2/12/1941, Kuehn đã cung cấp bằng văn bản các chi tiết cụ thể, cực kỳ chính xác về hạm đội và cung cấp cho lãnh sự quán một bộ tín hiệu mà các tàu ngầm Nhật Bản gần đó có thể thu được.
Phải đến ngày xảy ra vụ tấn công, ngày 7/12/1941, các hoạt động của gia đình Kuehn mới bị để ý. Trong lúc theo dõi cuộc tấn công, và vẫn gửi tín hiệu mã hóa cho người Nhật từ căn nhà nhìn ra Trân Châu Cảng, họ vẫn không bị người Mỹ phát hiện cho đến khi một ánh đèn nhấp nháy từ ngôi nhà của họ khiến lực lượng tình báo quân sự Mỹ nghi ngờ. Đặc vụ phụ trách khu vực Honolulu Robert Shivers phối hợp với cảnh sát địa phương canh gác Lãnh sự quán Nhật Bản và phát hiện các viên chức của Lãnh sự quán đang cố gắng đốt các tài liệu mã hóa, bao gồm một bộ tín hiệu về việc điều động hạm đội Hoa Kỳ.
Sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Kuehn bị bắt vào ngày 21/2/1942, và cuối cùng bị một ủy ban quân sự kết án “bị bắn bằng súng hỏa mai” vì tội gián điệp. Sau khi Kuehn cung cấp thông tin về các mạng lưới gián điệp của Nhật và Đức, bản án của ông ta được giảm xuống còn 50 năm lao động khổ sai, nhưng sau chiến tranh, ông ta bị trục xuất về Đức. Con gái và vợ ông ta cũng phải ngồi tù và bị trục xuất về Đức sau khi được thả.
Takeo Yoshikawa
Takeo Yoshikawa (1912 – 1993), con trai của một sĩ quan cảnh sát Nhật Bản, là một điệp viên người Nhật tại Hawaii trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Ông phục vụ trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản từ năm 1933 đến 1936 và làm việc trong ngành tình báo từ năm 1937 đến 1945.

Năm 1936, Yoshikawa được mời làm công việc dân sự cho cơ quan tình báo hải quân Nhật Bản. Nhờ những hiểu biết sâu rộng về Hải quân Hoa Kỳ, Yoshikawa được cử đến Hawaii dưới vỏ bọc Phó lãnh sự tên là Tadashi Morimura. Ông ta lên tàu đến Hawaii vào tháng 3/1941, cùng với tân Tổng Lãnh sự Nhật Bản. Yoshikawa thuê một căn hộ trên tầng 2 nhìn ra Trân Châu Cảng và lang thang khắp đảo Oahu, ghi chép về hoạt động của hạm đội và các biện pháp an ninh. Ông thuê máy bay nhỏ tại Sân bay John Rogers để quan sát các căn cứ của Mỹ. Ông lặn xuống dưới cảng, sử dụng một cây sậy rỗng làm thiết bị thở. Ông thu thập thông tin bằng cách đi trên tàu lai dắt của chính Hải quân Mỹ và lắng nghe các cuộc trò chuyện.
Các báo cáo của Yoshikawa được truyền từ lãnh sự quán Nhật Bản bằng mã “PURPLE” đến Bộ Ngoại giao Nhật, sau đó được chuyển cho Hải quân. Mặc dù mã này đã bị các chuyên gia giải mã của Mỹ phá được và các tin nhắn đã bị chặn và giải mã, nhưng thông tin liên lạc giữa Tokyo và Lãnh sự quán được coi là ít ưu tiên vì chúng chứa rất nhiều tin nhắn hoàn toàn mang tính thương mại. Tuy nhiên, một tin nhắn được gửi vào ngày 24/9/1941 đã chia Trân Châu Cảng thành 5 khu vực và yêu cầu vị trí và số lượng tàu chiến phải được chỉ ra trên một “sơ đồ” hoặc bảng chia ô của cảng. Những báo cáo hai tuần một lần này đã giúp Đô đốc Hải quân Nhật Isoroku Yamamoto hoàn thiện kế hoạch tấn công. Yoshikawa rất cẩn thận, không mang theo máy ảnh, bản đồ hay tài liệu nào và không bao giờ ghi chép lại những gì ông quan sát được trong các chuyến đi quanh Hawaii.
Cuộc tấn công Trân Châu Cảng
Hồ sơ của FBI cho thấy vào ngày 28/11/1941, Giám đốc FBI J. Edgar Hoover đã liên lạc qua radio với Robert L. Shivers, đặc vụ FBI phụ trách tại Honolulu, rằng do các cuộc đàm phán hòa bình giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản đang bị đình trệ, văn phòng Honolulu cần cảnh giác với mọi tình huống có thể xảy ra. Ngày 3/12/1941, đặc vụ Shivers thông báo cho Hoover và Lục quân và Hải quân ở Hawaii rằng người của anh ta đã nghe lén được một cuộc điện thoại giữa một đầu bếp tại Lãnh sự quán Nhật Bản và một người Nhật khác ở Honolulu, trong đó đầu bếp nói rằng các tài liệu quan trọng đang bị đốt và tiêu hủy (tại các địa điểm gián điệp khác của Nhật ở Thái Bình Dương, các hồ sơ được tiêu hủy bằng loại axit không khói đặc biệt).
Khi lực lượng đặc nhiệm Mỹ rời cảng vào ngày 5/12/1941, Takeo Yoshikawa (bí danh Tadashi Morimura) đã quan sát từ khoảng cách chỉ vài trăm thước về phía bắc. Ông ta cẩn thận không ghi chép gì, nhưng không bỏ sót điều gì khi quan sát tàu sân bay USS Lexington ra khơi. Nhờ những cuốn sách tham khảo đã đọc về tàu chiến Mỹ và trí nhớ tốt, ông biết chính xác tàu chiến nào của Mỹ nào đang rời cảng. Nhiệm vụ của ông là ghi lại chuyển động của chúng và báo cáo cho các chỉ huy tình báo ở Tokyo.
Yoshikawa quan sát tàu Lexington rời đi với sự lo lắng đáng kể. Việc hai hoặc cả ba tàu sân bay Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có mặt tại Trân Châu Cảng vào cuối tuần là điều bình thường. Giờ đây, không còn tàu sân bay nào ở bến cảng dù đã sắp đến cuối tuần. Cả ba đều đang ở ngoài biển, đâu đó giữa đại dương mênh mông.
Tối muộn ngày 6/12/1941, Yoshikawa ngồi tại bàn làm việc của mình trong Lãnh sự quán Nhật Bản ở Honolulu và chuẩn bị gửi đi thông điệp cuối cùng. Từ vị trí thuận lợi, ông ta có thể nhìn thấy 39 tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ neo đậu trong bến cảng; 9 thiết giáp hạm màu xám xếp thành hàng đôi ngoài khơi Đảo Ford; các nhà chứa máy bay và máy bay tuần tra của Căn cứ Không quân Hải quân Đảo Ford trải rộng khắp trung tâm bến cảng; Các ụ tàu khô, bến tàu ngầm, kho tiếp tế khổng lồ và kho chứa cũng hiện rõ mồn một. Trại lính Schofield, sân bay Hickam và sân bay Wheeler của Lục quân cũng nằm không xa. Tại hai sân bay này, máy bay chiến đấu xếp hàng đôi rất dài dọc theo đường băng.

Khi nghe được mật mã “Gió Đông, Mưa” trên radio sóng ngắn, mang tin tức từ Tokyo báo hiệu một cuộc tấn công vào Hoa Kỳ, Yoshikawa đã tiêu hủy mọi bằng chứng về hoạt động của mình. Khi FBI bắt giữ ông vào ngày xảy ra vụ tấn công, không có bằng chứng buộc tội nào về hoạt động gián điệp của ông. Cuối cùng, Yoshikawa trở về Nhật Bản vào tháng 8/1942 thông qua một cuộc trao đổi tù nhân ngoại giao. Trong một thời gian khá dài, người ta không hề biết rằng ông là điệp viên chính của Nhật tại Hawaii. Mãi đến cuối năm 1953, tờ Ehime Shimbun – một tờ báo địa phương của Nhật Bản – mới đăng bài phỏng vấn một cựu sĩ quan của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, người này tuyên bố rằng Thiếu úy Takeo Yoshikawa đã thực hiện nhiệm vụ gián điệp trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng.
Nhờ sự công khai này, Yoshikawa nhận được rất nhiều lời mời xuất bản câu chuyện của mình. Tuy nhiên, ông cảm thấy có quá nhiều người khác đã tham gia vào hoạt động gián điệp của mình và không muốn tiết lộ danh tính của họ hoặc hệ thống hoạt động của họ. Phải gần 20 năm sau nhiệm vụ tối mật của Yoshikawa là thiết lập cuộc tấn công Trân Châu Cảng, khi hầu hết đồng đội và đầu mối liên lạc của ông đã chết và Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã không còn tồn tại, Yoshikawa mới kể lại câu chuyện của mình.
Yoshikawa tóm tắt các hoạt động tình báo và gián điệp của mình như sau:
Như tôi đã nói, các hoạt động tình báo bí mật của tôi ít dựa vào các kỹ thuật bí ẩn mà chủ yếu dựa vào các phương pháp khoa học cơ bản về nghiên cứu, quan sát và phân tích thống kê. Hơn nữa, phương thức hoạt động của tôi là thực hiện các chuyến đi thực địa mà không cần chụp ảnh hay phác thảo bất cứ khi nào có thể. Tôi thích ghi nhớ chi tiết về các cơ sở mà tôi quan sát được trong đầu cho đến khi trở về Lãnh sự quán, nơi chúng được chép trực tiếp vào mật mã ngoại giao để báo cáo về Tokyo. Một thiếu sót đáng tiếc ở đây là tôi đã giữ lại bản phác thảo về Trân Châu Cảng, điều này có thể đã khiến nhiệm vụ của tôi kết thúc thất bại nếu bị FBI phát hiện trước cuộc tấn công.

Ý nghĩa lịch sử của Thế chiến II và cuộc tấn công Trân Châu Cảng đẩy Hoa Kỳ vào cuộc chiến đó là điều không cần bàn cãi, cũng như tầm quan trọng của tình báo trong quân sự và chiến tranh hải quân. Những nỗ lực tình báo và gián điệp của John S. Farnsworth, Harry T. Thompson, Bernard Julius Otto Kuehn và Takeo Yoshikawa chắc chắn là những hoạt động gián điệp quan trọng nhất được thực hiện để chuẩn bị cho Nhật Bản phát động chiến tranh chống lại Hoa Kỳ.
John S. Farnsworth và Harry T. Thompson, các cựu sĩ quan của quân đội Hoa Kỳ, không chỉ là gián điệp mà còn là kẻ phản bội đất nước. Bernard Julius Otto Kuehn và Takeo Yoshikawa cũng là gián điệp, nhưng là những sĩ quan tình báo chuyên nghiệp của Đức và Nhật Bản. Bốn người đàn ông này là những ví dụ điển hình về hoạt động gián điệp và tình báo, và câu chuyện của họ đã giúp mang lại một góc nhìn thấu đáo về quá trình chuẩn bị tình báo không chỉ dẫn đến cuộc tấn công Trân Châu Cảng mà còn dẫn đến sự tham gia của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử nhân loại.■
Robert Girod
Minh Thư dịch
(Lược dịch từ “American Intelligence Journal”, Vol. 38, No. 2, 2021)