Năm 1953, nhà báo, đảng viên Cộng sản Mỹ Joseph R. Starobin là nhà báo Mỹ duy nhất được đến thăm chiến khu Việt Bắc và tận mắt chứng kiến cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta ngay tại “thủ đô kháng chiến”. Sau chuyến thăm này, ông đã viết cuốn hồi ký “Eyewitness in Indo-China” (Nhân chứng ở Đông Dương) xuất bản lần đầu năm 1954, tái hiện chân thực cuộc chiến và tầm vóc của cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện góc nhìn thấu cảm của một nhân chứng phương Tây trước vận mệnh Đông Dương. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu trích đoạn về cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa tác giả và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu – nơi hình ảnh vị lãnh tụ hiện lên gần gũi mà sâu sắc qua góc nhìn của nhà báo Mỹ (Nội dung trong bài được giữ nguyên so với bản gốc để độc giả tham khảo; Tiêu đề bài viết do BBT đặt).

Liệu tôi có cơ hội được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – hay Bác Hồ như lớp thanh niên vẫn gọi, và Cha già Hồ như cách người nông dân nhắc đến ông? Câu trả lời hiện vẫn bỏ ngỏ. Đó là một tâm nguyện quá lớn lao mà ngay cả những người sắp đặt chuyến đi cho tôi cũng chưa thể khẳng định chắc chắn. Chúng tôi trở lại căn lán tiếp đón, nơi khởi đầu hành trình hướng tới Tổng hành dinh, rồi chìm sâu vào giấc ngủ từ buổi trưa hầm hập sang tận xế chiều. Những đêm dài ẩm thấp nơi công xưởng giữa đại ngàn, cùng những cơn mưa bóng mây, đã bắt đầu làm tôi kiệt sức. Khi ấy, quả thực không có liều thuốc nào hữu hiệu hơn một giấc ngủ dài.
Tối hôm ấy, Lương thông báo chúng tôi sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ tiếp đón chúng tôi. Tôi đã từng nghe nhiều về sự nghiệp của ông. Xuất thân là một luật sư tài năng, ông từng bị giam sáu năm ở Côn Đảo, hòn đảo ngoài khơi phía nam Đông Dương. Năm 1946, ông cũng là người tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các hội nghị ở Paris. Trên cương vị Phó Thủ tướng, ông là nhân vật quyền lực thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dù chưa biết cuộc gặp này có thay cho lịch phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh hay không, tôi vẫn rất mong được gặp ông Phạm Văn Đồng.
Mọi việc tối hôm đó diễn ra nhanh chóng. Băng qua những bờ ruộng khô và vài ngọn đồi, chúng tôi men theo lối mòn dọc sườn núi, chỉ dừng lại bên suối để hồi sức. Lúc này đoàn không còn người hộ tống, chỉ có tôi đi cùng Lê Thanh và Lương. Từ tinh mơ, Chính ủy Quang đã chia tay đoàn; ông nói sẽ phải tiếp tục hành trình đi bộ dài bốn tiếng nữa.
Hoàng hôn nhuộm tím cánh đồng, thấp thoáng bóng khỉ băng qua tán rừng. Chúng tôi tới một căn lán ven đồi. Trước lán, một chàng trai trẻ đang tắm trong chiếc bồn gỗ. Nước từ những ống tre dẫn xuống, chảy róc rách vào bồn. Tre quả là một vật liệu đa dụng. Người ta có thể dùng tre dựng nhà, chẻ nan đan vách, hay làm giỏ, làm đuốc, đan chiếu và lát sàn. Măng tre là món ăn ngon kèm bún và cơm; còn với các cụ già, chiếc điếu tre dài lại gắn liền với thói quen rít thuốc mỗi ngày.
Chàng trai trẻ giúp chúng tôi dắt ngựa, còn chúng tôi tiếp tục leo lên sườn đồi để tới một căn lán khác. Lán này có cầu thang gỗ để leo lên, bên trong đang có ánh đèn sáng. Tôi là người đầu tiên bước lên. Dưới ánh đèn, không phải một mà có tới hai người đang ngồi đối diện nhau. Một người quay ra. Đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Ông khỏe chứ?” ông hỏi bằng tiếng Anh, rồi niềm nở bắt tay tôi. Cùng lúc, Phạm Văn Đồng ở phía bên kia bàn cũng đứng dậy, trông ông thấp và già dặn hơn trong ảnh với đôi mắt hõm sâu. Vậy là vị Chủ tịch huyền thoại đang ở ngay trước mặt tôi. Trong bóng tối, Lương và Lê Thanh mỉm cười. Dường như họ đã lường trước việc sẽ có tới hai vị khách đợi chúng tôi tối nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có vóc người tầm thước, vai hơi khom nhẹ. Mái tóc điểm bạc để lộ vầng trán cao rộng; dưới đôi gò má cao là ánh mắt sắc sảo. Ông để chòm râu thưa kiểu phương Đông, nụ cười rạng rỡ với hàm răng trắng khỏe. Hôm ấy, ông mặc chiếc áo khoác xanh giản dị, quần kiểu nông dân cùng một chiếc áo len mỏng. Khi ra về, tôi mới nhận ra ông cũng đi đôi dép với đế và quai cắt ra từ lốp cao su cũ, giống hệt loại dép của những người trẻ tuổi ở đây.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động dẫn dắt câu chuyện, và bánh quy được mang ra mời khách. Giữa lúc chúng tôi châm thuốc, ông rút từ túi ra một chiếc bật lửa đá giản dị và khoe: “Đây này – sản xuất tại Việt Nam!”. Tiếp đó, ông hỏi thăm chuyến đi của tôi thế nào, tôi có đi qua Moscow hay đã ghé Paris chưa, rồi khẽ lắc đầu trầm ngâm. Kế đến, ông hỏi tôi đến từ vùng nào của nước Mỹ. Tiếng Anh của ông rất tốt. Thật khó tin là ít nhất bảy năm qua ông gần như không sử dụng tiếng Anh. Ông chỉ hơi khựng lại một nhịp khi cố nhớ một từ viết tắt. Ông đùa hỏi liệu khi về nước, tôi có gặp rắc rối gì với bên F…B… chữ cuối là gì nhỉ… à đúng rồi, F.B.I không? Ông cười vang rồi quay sang giải thích với Phạm Văn Đồng: “Cảnh sát ấy mà. Bọn mật thám”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kể về những chuyến đi của mình tới Tây Bán cầu. Ông đã từng đến New York; ông còn nhớ khu Harlem và Tượng Nữ thần Tự do. Đôi mắt ông ánh lên khi đồng tình với tôi San Francisco là một trong những thành phố đẹp nhất thế giới. Ông cũng hiểu rất rõ vẻ đẹp vừa giàu có vừa bi tráng của các thành phố ở Mỹ Latinh.
Bởi khi còn trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi bằng đường biển và làm việc trên các tàu buôn Pháp. Quê nội ông ở Nghệ An, thuộc miền Trung Việt Nam, gần thành phố ven biển Vinh, từng là một cái nôi của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Cha ông mang tên Nguyễn Ái Quốc, nghĩa là “Nguyễn, người yêu nước”. Về sau, người con cũng kế thừa danh xưng này và sử dụng trong phần lớn cuộc đời, cho tới khoảng những năm 1940–1941([1]). Dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc, ông viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” và xuất hiện tại Cung điện Versailles, Pháp năm 1919. Khi đó, ông là lãnh đạo chính trị người Việt duy nhất dám lên tiếng đòi độc lập trước Georges Clemenceau, Lloyd George và Woodrow Wilson([2])– dẫu hiển nhiên là họ không hề bận tâm. Tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống bằng nghề nhiếp ảnh ở Marseille và viết báo cho công đoàn Pháp ở Paris. Ông đã sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa, một tổ chức có tuổi đời khá ngắn. Năm 1920, ông là đại biểu “An Nam” duy nhất tham dự Đại hội Tours – nơi Đảng Xã hội Pháp chia rẽ và phe đa số quyết định đi theo chủ nghĩa cộng sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống ở Liên Xô trong những năm đầu hình thành nhà nước Xô viết, rồi có mặt tại Quảng Châu suốt giai đoạn Cách mạng Trung Quốc (1924–1927). Trong số những người đang sát cánh cùng ông ở chiến khu trong rừng hiện nay, có vài gương mặt từng là học trò của ông thuở ấy – những thành viên thuộc các nhóm thanh niên cộng sản đầu tiên. Năm 1930, ông thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng buộc phải rời khỏi đất nước sau khi Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp đẫm máu([3]). Ông cũng từng bị cảnh sát Anh bắt giam một năm ở Hồng Kông. Trong khi đó, cảnh sát Pháp tưởng ông đã qua đời vào đầu những năm 1930, thậm chí còn công bố hồ sơ theo dõi ông.
Rồi ông tái xuất ở vùng biên giới, ngay khu vực chúng tôi từng đi qua, để tổ chức phong trào Việt Minh (Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh). Kể từ đó, ông lấy tên là Hồ Chí Minh – có nghĩa là “Người soi sáng”.
Tôi ngỏ ý hỏi Chủ tịch liệu mình có thể viết về quãng thời gian ông sống ở nước tôi trước Thế chiến thứ nhất không, bởi điều đó hẳn sẽ thu hút sự chú ý của người Mỹ.
“À, các anh đều giống nhau cả, giới nhà báo các anh lúc nào cũng chỉ săn lùng những chi tiết giật gân,” ông đáp.
“Không, ý tôi là những khía cạnh con người cơ,” tôi phân trần.
Ông khẽ phẩy tay qua mặt bàn: “Nhà báo các anh, ai cũng như ai cả thôi…”.
Ông hỏi tôi rất nhiều điều về đời sống ở Mỹ, và có lúc cái tên Howard Fast được nhắc đến. Ông nói mình đã đọc một số tác phẩm của nhà văn này. Phạm Văn Đồng muốn biết Howard Fast là ai, và Chủ tịch giải thích cho ông. Tôi ngồi đó, không khỏi ngạc nhiên.
Câu chuyện chuyển sang những khó khăn và triển vọng của cuộc chiến. Có lúc ông thốt lên: “Chúng tôi đang chống lại một đế quốc già cỗi bị đồng đô la của một đế quốc non trẻ hơn mua chuộc. Dù vậy, chúng tôi nhất định sẽ đánh bại cả hai”. Câu nói ấy vang lên như một lời thách thức đầy khí phách và bất khuất. Trên gương mặt vị chiến sĩ lão thành 63 tuổi bỗng hằn rõ cả một chặng đường đấu tranh trường kỳ, với những năm tháng lưu đày và gian khổ.
“Thưa Chủ tịch, trong điều kiện nào thì nước Pháp mới nghĩ đến hòa bình?” – tôi lên tiếng đưa ra một câu hỏi mang đầy tính thăm dò. Vừa đứng dậy, ông đáp lời ngay lập tức: “Khi họ bị đánh bại”.
Ở Hồ Chí Minh, người ta thấy được bề dày trải nghiệm cá nhân hòa quyện cùng câu chuyện dân tộc và bức tranh toàn cảnh của cả thế kỷ. Không chỉ đặt nền móng cho chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam bằng cách vận dụng sáng tạo các nguyên tắc chung của chủ nghĩa Marx – Lenin vào thực tiễn, ông còn chắt lọc bài học từ nước Pháp cách mạng, Cách mạng Xô viết và kinh nghiệm của Trung Quốc (từ Tôn Dật Tiên đến Mao Trạch Đông) để dẫn dắt công cuộc chuyển đổi một đất nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Thông thạo 5 ngoại ngữ – tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Trung và tiếng Anh – cùng các ngôn ngữ bản địa tại Đông Dương, ông đã mang những luồng tư tưởng lớn của thời đại hòa nhịp vào cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam.
Đối với người nông dân chất phác, ông Hồ gợi lên hình ảnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – người cũng từng lang thang, chịu nhiều gian khổ để tìm ra chân lý, rồi sau khi tìm thấy, lại trở về với nhân dân. Tôi nhớ đến tập tài liệu nhỏ nhặt được tại căn nhà của một người nông dân mà chúng tôi nghỉ chân đêm đầu tiên sau khi vượt qua biên giới, ở gần Cao Bằng. Đó là thông điệp mừng năm mới của Chủ tịch gửi tới đồng bào. Một mặt in chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với quốc kỳ nền đỏ sao vàng ở góc; mặt kia là lời chúc năm mới, được viết theo thể văn cổ. Có một câu viết rằng: “Xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới năm Thìn vừa qua và năm Quý Tỵ đang tới…”. Nét đặc trưng của ông Hồ là lối diễn đạt giàu hình ảnh cùng ngôn ngữ vô cùng giản dị, gần gũi như vậy. Điển hình như khi bàn về việc cảm hóa những người lầm lỡ hay đi chệch khỏi con đường cách mạng, ông ví von: “Trong 10 ngón tay, có ngón dài, ngón ngắn. Trong đồng bào chúng ta, đôi khi vẫn có người lầm đường lạc lối. Điều cốt yếu là ta biết giúp họ tìm lại đường về…”

Ông là nhà chiến lược tài ba trên một hành trình đầy chông gai và rắc rối. Ngay trong cuộc Kháng chiến đầu tiên (1941–1945) vốn đầy rẫy phức tạp, thử thách đặt ra cho ông là làm thế nào dấy lên phong trào du kích chống lại cả chính quyền Pháp Vichy và đế quốc Nhật mới xuất hiện – một thế lực mang theo khẩu hiệu “Châu Á của người Châu Á” nghe rất “bắt tai” nhưng đầy mị dân. Hơn nữa, nhiệm vụ này phải được thực thi dọc theo dải biên giới do lực lượng quân phiệt Quốc dân Đảng chi phối. Lực lượng này mang nhiều tham vọng riêng, thậm chí cài cắm cả tay sai vào hàng ngũ người Việt chống ách chiếm đóng Nhật – Pháp. Dù chúng để cho các lãnh đạo Việt Minh tự do qua lại, cục diện đôi bên vẫn rất bấp bênh và đầy rủi ro. Điển hình là việc một tướng quân phiệt từng bắt giam Hồ Chí Minh suốt nhiều tháng trời nhằm lợi dụng Việt Minh phục vụ mưu đồ riêng.
Sau cuộc tiến quân thần tốc vào Hà Nội tháng 8 năm 1945, đúng lúc Nhật đầu hàng, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã phải đối mặt với những vấn đề vô cùng phức tạp. Các hiệp định của phe Đồng minh cho phép lực lượng Quốc dân Đảng ồ ạt đưa quân vào Việt Nam với danh nghĩa bề ngoài là tước vũ khí quân Nhật. Trong khi đó, quân Pháp rắp tâm quay trở lại (bằng cách núp bóng trên các thiết giáp hạm của Anh, như một nhà văn từng viết) cũng đang tràn vào từ miền Nam. Giữa lúc Cách mạng Việt Nam bị cô lập và bủa vây bởi hiểm nguy, Hồ Chí Minh phải giải một bài toán vô cùng nan giải: vừa chống đỡ sức ép từ quân Quốc dân Đảng, vừa ngăn chặn những kẻ ái quốc giả danh phá hoại chính quyền từ bên trong, đồng thời phải cản bước thực dân Pháp quay lại nhấn chìm đất nước trong biển máu.
Hồ Chí Minh đã dốc sức hóa giải và quy tụ các lực lượng yêu nước chân chính. Song, ở thời khắc quyết định, bất chấp muôn vàn hệ lụy kéo theo, ông vẫn đưa ra một quyết định táo bạo: đàm phán với Pháp. Ra đời 8 tháng sau ngày lập quốc, giữa lúc quân Pháp đang đánh chiếm miền Nam và lập chính quyền ly khai ở Nam Kỳ, Hiệp định Sơ bộ tháng 3 năm 1946 chính thức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một “quốc gia tự do có Chính phủ, Quốc hội, Quân đội và nền tài chính riêng”. Đổi lại, ông Hồ chấp thuận để Chính phủ duy trì liên kết với Pháp trong khối Liên bang Đông Dương, cùng điều kiện quân Pháp phải rút hoàn toàn vào năm 1952.
Bản hiệp ước đã buộc quân Quốc dân Đảng phải rút lui, kéo theo sự sụp đổ trên mặt trận chính trị của đám tay sai người Việt. Đồng thời, bằng việc thể hiện thiện chí duy trì liên kết với nước Pháp, Hồ Chí Minh không chỉ tranh thủ được nửa năm hòa bình quý giá mà còn chiếm lĩnh được lợi thế to lớn về mặt chính nghĩa. Tuy nhiên, thực dân Pháp ở Sài Gòn và Paris vẫn chưa hề thỏa mãn. Chúng rắp tâm muốn nghiền nát chính quyền cách mạng, nhưng dư luận Pháp lại không thể nào làm ngơ trước tiếng gọi của lương tri. Những người Việt Nam vốn sẵn lòng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nước Pháp giờ đây lại bị tấn công và bị gán mác là “quân phiến loạn”. Thế nhưng, ngày càng có nhiều người dân Pháp nhận ra rằng cuộc tấn công này thực chất chỉ là “một cuộc chiến tranh bẩn”. Đó là một cuộc chiến phi nghĩa ngay từ khi mới bắt đầu, để rồi chẳng bao lâu sau, nó bộc lộ rõ bản chất là một cuộc chiến vô ích, hao người tốn của và hoàn toàn vô vọng.
Khi chúng tôi ngồi cùng nhau vào buổi tối đầu tiên đó, những nét tính cách của Chủ tịch dần bộc lộ. Từng bôn ba khắp thế giới, những ký ức và trải nghiệm trong ông vẫn luôn vẹn nguyên, sống động. Ông là bậc lão thành, một nhà lãnh đạo Cộng sản của thế hệ đi trước, người mà những ngọn đèn ký ức chỉ cần được khơi gợi qua câu chuyện là lại bừng sáng rực rỡ. Ông cũng là vị nguyên thủ quốc gia, luôn cẩn trọng trong từng lời ăn tiếng nói, thỉnh thoảng lại quay sang trao đổi với ông Phạm Văn Đồng về điểm này hay điểm khác. Tôi hỏi ông đánh giá thế nào về tác động của việc Mỹ tiếp tục viện trợ để xây dựng một đội quân người Việt dưới quyền Vua Bảo Đại. Nhanh như chớp, ông đáp lời: “Càng viện trợ nhiều vũ khí cho Bảo Đại, và nước Mỹ càng cố tình dùng ‘người Châu Á đánh người Châu Á’, thì Quân đội Nhân dân lại càng có thêm nhiều vũ khí và tân binh”.
Trong tính cách của ông còn hiện lên hình ảnh một Bác Hồ tự tay chăm sóc mảnh vườn của mình, tự đánh máy các bức điện, và răn dạy thanh niên về bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính”. Đó là một Hồ Chí Minh mà người ta ít tường tận về đời tư, nhưng lại là “Bác” của mọi trẻ em, mọi thanh thiếu niên trên khắp đất nước. Buổi tối đầu tiên ấy, khi đang sửa soạn rời đi, ông bất chợt quay sang hỏi tôi: “Anh cưỡi ngựa có giỏi không?”. Tôi lúng túng lẩm bẩm một câu trả lời chung chung. “Anh nhớ giữ gìn sức khỏe nhé,” ông nói, vừa cài lại khuy áo khoác vừa bước ra cửa. “Bảo trọng nhé… đường mòn ở đây khó đi lắm… và đôi khi, mấy con ngựa cũng rất bất kham”.
Rồi ông bước xuống bậc thang gỗ, từ chối sự giúp đỡ của bất kỳ ai trong chúng tôi. Ông một mình lên ngựa và khuất dần vào trong rừng.

Vài hôm sau, tôi gặp lại Chủ tịch. Trông ông đăm chiêu, trĩu nặng tâm sự. Tin tức về sự ra đi của Stalin đã được truyền tới tận chốn rừng sâu. Hinh là người báo tin cho chúng tôi chỉ bằng một câu ngắn gọn: “Đồng chí Stalin không còn nữa”. Tối hôm ấy, một buổi lễ tưởng niệm sẽ diễn ra và ông Hồ là người đọc điếu văn chính. Lúc này, chúng tôi đang ngồi cùng nhau trong một chiếc lán tre mà ai đó đã ví von gọi là “Ngôi nhà Xanh”.
Tuy bề bộn tâm tư, ông vẫn nhã nhặn hướng câu chuyện về nước Mỹ. Cùng lúc đó, ông mời tôi dùng thêm miến, cơm nóng và thịt luộc ăn kèm các loại nước chấm cay nồng. Ông vẫn nhớ như in giai đoạn 1944 – 1945, khi nhiều phi công Mỹ rơi xuống khu rừng này. Một số được phái đến hỗ trợ du kích Việt Minh, số khác phải nhảy dù do máy bay bị bắn hạ trên đường tới Côn Minh. Ông hồi tưởng về một phi công đi lạc cả tháng trời, bế tắc vì bất đồng ngôn ngữ, cho đến khi được đưa tới gặp Hồ Chí Minh. Chủ tịch cố gắng lục tìm trong ký ức và cho rằng đó có lẽ là Đại úy Holland.
Ông chợt quay sang tôi: “Những bậc tiền nhân Mỹ như Franklin hay Jefferson sẽ nghĩ gì nếu thấy máy bay ném bom của Mỹ đang ngăn cản một dân tộc nhỏ bé như chúng tôi giành độc lập?”.
Chủ tịch nói về lòng dũng cảm và sự hy sinh quên mình của nhân dân. “Anh biết đấy,” ông chia sẻ, “phương Đông vốn rất khắt khe trong quan hệ nam nữ. Vậy mà lúc nguy nan, biết bao cán bộ của chúng tôi đã được những người phụ nữ dang tay che giấu và cứu mạng”. Sau đó Hồ Chủ tịch nói về những công trình làm đường ông vừa đi thăm. Tôi chia sẻ rằng sự dũng cảm và đức hy sinh chính là điều đã khiến tôi xúc động sâu sắc nhất trong chuyến đi này. Tôi cũng khẽ nói thêm, sự lãnh đạo tài tình chính là một trong những cội nguồn của lòng tận tụy ấy. Đôi mắt Chủ tịch rực sáng. Ông nói: “Một dân tộc sẽ có được sự lãnh đạo mà họ xứng đáng”.
Tối hôm ấy, ông có buổi họp mặt với nhóm Bộ trưởng và cán bộ tập trung giữa rừng. Mọi người ngồi trên những dãy ghế băng thô sơ, quây quần bên ánh nến hắt ra từ chiếc giá tre tự chế. Trước lán là bức chân dung Stalin được kết vòng hoa trang trọng, hai chiếc violin chơi khe khẽ. Hồ Chủ tịch đã có một bài phát biểu ngắn gọn, tưởng nhớ vai trò lãnh đạo của Stalin trong công cuộc đánh bại phe Trục phát xít. Ông đứng đó trong ánh sáng mờ ảo, rồi bước ra cửa. Dáng người mảnh khảnh của ông in bóng trên nền đêm đen thẫm. Ông vẫy tay chào mọi người – cái vẫy tay của một con người từng bao lần phất cao ngọn cờ chiến đấu trong suốt cuộc đời, một lời chào khiêm nhường, một cử chỉ ân cần của bậc cha chú dành cho những đồng chí trẻ. Với tôi, đó là khoảnh khắc kết tinh trọn vẹn chân dung Bác Hồ: người Bác, người Cha và vị Chủ tịch – tất cả hòa quyện làm một.■
Joseph R. Starobin
Anh Quốc (dịch)
Chú thích:
[1] Tác giả đã có sự nhầm lẫn. “Nguyễn Ái Quốc” là bí danh của chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ hoạt động cách mạng. Thân sinh của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc [ND]
[2] Lần lượt là Thủ tướng Pháp, Thủ tướng Anh và Tổng thống Mỹ đương nhiệm. Đây là ba nhà lãnh đạo quyền lực nhất nắm quyền quyết định trật tự thế giới sau Thế chiến thứ nhất tại Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919 [ND]
[3] Chi tiết này chưa chính xác về mặt lịch sử. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc). Thực tế, Người hoạt động liên tục ở nước ngoài từ năm 1911 và đến tháng 1/1941 mới chính thức trở về Việt Nam [ND]