Từ những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào các thập niên 40, 50 và 60 của thế kỷ XX, nhà báo Pháp Jean Lacouture đã tìm cách lý giải bức chân dung của một người cộng sản giản dị nhưng lại có khả năng khiến nhiều cường quốc phải chao đảo. Trong bài viết đăng trên The New York Times vào ngày 28/3/1965, có tựa đề “Uncle Ho defies Uncle Sam” (Bác Hồ thách đấu với chú Sam), Jean Lacouture không chỉ tóm tắt sự nghiệp chính trị đầy truân chuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ mà nhân dân Việt Nam trìu mến gọi là “Bác Hồ” – mà còn đặt Bác trong thế đối sánh đầy ẩn dụ với “chú Sam”, hay Uncle Sam, một cách chơi chữ ý chỉ nước Mỹ (US). Bài viết không chỉ là một ký sự chính trị mà còn là lời ghi nhận của một quan sát viên phương Tây về tầm vóc, bản lĩnh và những ảnh hưởng hiếm có của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử thế kỷ XX (ngôn từ trong bài được giữ nguyên so với bản gốc của tác giả để đảm bảo giá trị nghiên cứu, tham khảo; các chú thích là của người dịch).

Ẩn mình giữa lá hoa và cỏ cây bao quanh cung điện mang lối kiến trúc rococo của những vị toàn quyền Pháp ngày xưa tại Hà Nội là một căn nhà nhỏ, được bài trí giản dị. Đây từng là nơi ở của người làm vườn, giờ trở thành căn nhà của một người đàn ông cao tuổi, gầy yếu, trên môi là một nụ cười hết sức chân thành. Ông là người từng đập tan hàng ngũ thực dân Pháp ở Đông Dương, và hiện đang thách thức sức mạnh của Hoa Kỳ trong một cuộc chiến có thể là khúc dạo đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn, hoặc trở thành chiến thắng vĩ đại nhất của ông.
Người đứng đầu miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh, được nhân dân thân mật gọi là “Bác Hồ”, là vị lãnh tụ của một đất nước khiêm nhường, chỉ vỏn vẹn 18 triệu dân, có mức sống thấp, nguồn lực huy động hết sức hạn chế. Nhưng những điều kiện khiêm tốn ấy lại không phản ánh đúng vai trò quan trọng của ông. Ở độ tuổi 75, ông là nhà lãnh đạo cộng sản nổi bật nhất tại Đông Nam Á, đồng thời là cái tên hiếm hoi còn tại thế trong số những nhân vật thuộc về một thế hệ lãnh đạo lão thành, bao gồm nhiều tên tuổi như Maurice Thorez[1] ở Pháp, Palmiro Togliatti[2] ở Ý và tất nhiên, là cả Joseph Stalin. Vào thời điểm Mao Trạch Đông mới chỉ là một nhà lãnh đạo chưa có tên tuổi, đứng đầu phe cánh tả trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc tế Cộng sản đã chọn Hồ Chí Minh là người lãnh đạo cách mạnh trên toàn châu Á.
Tuy nhiên, vai trò của ông sớm thay đổi theo thời gian. Từ chỗ nhận nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch lật đổ bí mật tại Hồng Kông hay Bangkok, ông chuyển sang lãnh đạo một cuộc nổi dậy vốn chủ yếu được thúc đẩy bởi tinh thần dân tộc. Thời gian qua đi, phong trào này mới dần được chủ nghĩa cộng sản soi lối. Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh đặt ra một câu hỏi: trước hết, ông là một nhà dân tộc chủ nghĩa, hay là một người cộng sản? Trên thực tế, việc đi tìm câu trả lời cho nghi vấn này ngày một trở nên khó khăn, bởi lịch sử ghi nhớ tên ông với tư cách là một chính trị gia, hơn là một nhà lý luận ý thức hệ thuần túy. Không thể chối bỏ sự thật là Hồ Chí Minh thuộc về phong trào cộng sản. Cũng không thể phủ nhận rằng, trong khi lý tưởng con tim của ông hướng về Moscow, những hành động thực tiễn của ông lại nghiêng về phía Bắc Kinh. Tuy vậy, cũng có thể thấy, đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cộng sản vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện. Ông đã lồng ghép chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc, thay vì chọn một trong hai – giống như cách nhà lãnh đạo Nam Tư Josip Broz Tito đã từng thử nghiệm lần đầu ở châu Âu trước đó. Sự hòa trộn này đã tạo nên một dạng động lực hành động hết sức phức tạp, là sản phẩm của một sự nghiệp chính trị thậm chí còn đặc thù hơn nữa. Sự nghiệp ấy trải dài từ Paris, Moscow, lan tỏa tới nhiều đất nước khác ở phương Đông.
Hồ Chí Minh sinh năm 1890 trong một gia đình nghèo thuộc tầng lớp nho sĩ bình dân (bị chính quyền thực dân nghi ngờ vì có tư tưởng chống Pháp) tại Thanh Hóa[3], thuộc miền Nam của khu vực ngày nay là miền Bắc Việt Nam. Tỉnh thành này có dân cư tập trung đông đúc, đông tới độ mà hầu hết thanh niên trai tráng đều phải rời đi để kiếm kế sinh nhai. Giống như những người bạn đồng trang lứa, chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành – tên thời đi học của Hồ Chí Minh – cũng sớm tạm biệt lũy tre làng. Đầu năm 1917, Hồ Chí Minh nhận làm chân phụ bếp trên chiếc Latouché-Tréville, một con tàu hơi nước của Pháp chạy tuyến Sài Gòn – Marseille.
Ông đặt chân đến Southampton, làm việc một thời gian tại London với vai trò phụ bếp cho đầu bếp người Pháp Auguste Escoffier ở khách sạn Carlton, rồi cuối cùng đến Paris vào cuối năm 1917 – đúng cái ngày đen tối nhất của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất – ngày người Nga ký bản Hiệp ước hòa bình cục bộ Brest-Litovsk với Đức. Ông nhận công việc chỉnh sửa hậu kỳ ảnh, rồi mau chóng thiết lập mối quan hệ với các nhóm cánh tả, tham gia vận động phản đối việc tuyển mộ người An Nam (Việt Nam) vào quân ngũ hoặc vào các trại lao dịch của người Pháp. Ông cũng viết bài cho các tờ báo xã hội chủ nghĩa của Pháp, và phát biểu – bằng thứ tiếng Pháp còn vụng về – tại Club du Faubourg, nơi gặp gỡ của giới trí thức thiên tả.
Tại đại hội Đảng Xã hội ở Tours năm 1920, nơi chứng kiến “sự chia rẽ” của Léon Blum khỏi Marcel Cachin[4], Hồ Chí Minh đã tham gia vào hàng ngũ của Cachin, nhân vật sau này trở thành nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp. Khi thiên phú báo chí dần dần nở rộ, ông cho ra đời một tờ tuần san khiêm tốn mang tên Le Paria (Người cùng khổ), với phần lớn nội dung được chính tay Hồ Chí Minh và Messali Hadj, nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa Algérie tương lai, chắp bút. Tờ báo này là tiếng thét phản đối đầy thống thiết đối với chủ nghĩa thực dân Pháp, vang động từ Bắc Phi tới Đông Dương, từ Congo đến những thuộc địa ở miền Tây Ấn Độ.

Tinh thần cách mạng dẫn lối ông tới những sứ mệnh lớn lao hơn. Năm 1923, ông đặt chân tới Moscow, lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc (“Nguyễn” là họ phổ biến nhất ở Việt Nam, tương tự như “Smith”; “Quốc” mang nghĩa là “quê hương”, vậy nên cái tên này cũng gần như được hiểu là “người họ Nguyễn yêu nước”), cái tên mà hai thập kỷ về sau sẽ được nhiều cơ quan an ninh quốc tế không ngừng nhắc tới.
Hồ Chí Minh ở lại Moscow khoảng hơn hai năm, trước tiên với tư cách là một học viên tại Trường Cách mạng, đồng thời là thành viên của Quốc tế Nông dân, sau đó là thành viên lâm thời của Quốc tế Cộng sản. Tại đây, ông đã có dịp làm quen với phần lớn những nhà lãnh đạo chủ chốt của phong trào cộng sản. Theo lời một người bạn của ông, Ruth Fischer quá cố, khi đó là đại diện của Đức tại Quốc tế Cộng sản, người thanh niên Việt Nam được đánh giá là một nhân vật đáng chú ý. Một phần vì ông từ chối chọn phe trong các cuộc tranh cãi nội bộ giữa các đảng phái – điều hết sức bất thường vào thời điểm đó. Kỳ lạ hơn nữa là việc ông không hứng thú với các công tác lý thuyết hóa ý thức hệ; Hồ Chí Minh là một nhà chính khách trong cốt tủy, dẫu vậy, giới lý luận trong Quốc tế Cộng sản vẫn dành cho ông sự tôn trọng hết mực.

Để minh chứng cho sự tín nhiệm của mình, Hồ Chí Minh được giao cho một nhiệm vụ quan trọng: năm 1925, ông được cử sang Trung Quốc làm cố vấn chính trị cho Mikhail Borodin, đại diện của Stalin trong lực lượng Quốc dân đảng đang lên. Nhiệm vụ này là phát súng khởi đầu cho một giai đoạn hoạt động đặc biệt, đầy phong ba và bí mật. Trong một thập kỷ tiếp theo, cuộc đời Hồ Chí Minh bôn ba từ nhiều nhà tù tới gần sát các trung tâm quyền lực, từ những cuộc biểu tình đẫm máu cho tới quãng đời tha hương. Dù liên tục phải thay đổi phạm vi hoạt động, ông vẫn dành được chút ít thì giờ để sáng tác hàng trăm bài thơ, vừa tao nhã nhưng lại vừa có âm hưởng sử thi, có nhiều điểm giao thoa với phong cách thi ca của Mao Trạch Đông. Trong một bài thơ của mình, ông viết: “Bỗng nghe thấy tiếng sáo thu vang lên tựa hồ một tín hiệu ở nơi lặng gió”[5].
Năm 1927, tại Bangkok, Hồ Chí Minh đã xây dựng một chiến lược hiệu quả mà lợi ích nó mang lại vẫn còn nguyên giá trị tới tận ngày hôm nay. Ông tích cực thiết lập mối quan hệ với giới tăng lữ Phật giáo. Bằng cách tận dụng những mối quan hệ đó, hoặc tranh thủ sự ủng hộ trong hàng ngũ này, ông đã thành công trong việc đưa các nhà tư tưởng Mác-xít vào Đông Dương thuộc Pháp.
Tại Hồng Kông, một trong những điểm dừng chân tiếp theo, ông bị cảnh sát Anh bắt giữ. Ba năm sau, vào năm 1933, xuất hiện tin đồn rằng ông đã qua đời vì bệnh lao. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia an ninh Pháp tại Sài Gòn lại hết sức nghi ngờ tính xác thực của thông tin này. Và phán đoán của họ không sai: năm 1941, cơ quan kể trên nhận được thông tin về việc một tổ chức cách mạng mới mang tên Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh) vừa được thành lập tại Trung Quốc[6], do một nhân vật được gọi là Hồ Chí Minh lãnh đạo; người này – dĩ nhiên – không ai khác chính là viên “đặc vụ” và là nhà hoạt động cách mạng được cho là đã qua đời – Nguyễn Ái Quốc.
Với tư cách là một mặt trận liên minh giữa các lực lượng dân tộc chủ nghĩa và các đảng viên cộng sản, Việt Minh không phải là một sáng tạo mới về mặt chiến thuật bởi phe Cộng sản. Dẫu vậy, tính cách mạng trong chiến lược của Hồ Chí Minh được thể hiện ở một nước đi rất khác. Nhằm mục đích nhận được sự công nhận từ các đồng minh phi Cộng sản về tính chính danh của Việt Minh, ông cho giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương – hành động chưa từng có tiền lệ trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế. Kể là cả với công tác thực hiện chiến lược “mặt trận thống nhất”, chưa hề có bất kỳ ai lại có bước đi táo bạo như vậy. Cả Palmiro Togliatti, Maurice Thorez, lẫn Władysław Gomułka[7] đều không dám giải tán chính đảng của mình, cho dù là để trấn an các lực lượng xã hội chủ nghĩa, “tiến bộ” hay các phe cánh tả khác mà họ mong muốn hợp tác. Quyết định này của Hồ Chí Minh sớm nhận được sự chỉ trích dữ dội từ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cho đến năm 1965, đây vẫn được xem là một trong những nguyên nhân trọng yếu dẫn đến sự khó chịu dai dẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Từ năm 1941 đến năm 1945, Việt Minh xây dựng một đội quân ở miền Nam Trung Quốc. Quân nhân trong hàng ngũ này sau đó thâm nhập vào lãnh thổ Đông Dương, Hồ Chí Minh liền đưa ra lời đề nghị hợp tác quân sự với lực lượng kháng chiến ở phe Gaullist, với mục tiêu chống lại sự chiếm đóng của phát xít Nhật. Cuối cùng, vào ngày 2 tháng Chín năm 1946[8], một năm sau khi Nhật Bản chính thức đầu hàng – Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia độc lập. Việt Minh, dù chỉ chiếm thiểu số nhưng lại giữ hầu hết mọi vị trí then chốt trong hàng ngũ lãnh đạo đất nước.
Tuy vậy, phía trước mặt vẫn là khó khăn chồng chất khó khăn. Theo như những thỏa thuận của phe Đồng minh, Bắc Việt Nam bị quân Quốc dân đảng Trung Quốc chiếm đóng, trong khi Lực lượng Viễn chinh Pháp lại riết róng chuẩn bị tái chiếm đất nước. Đứng trước tình thế “một cổ hai tròng”, Hồ Chí Minh đã lần lượt giải quyết từng vấn đề một như một nghệ nhân bậc thầy. Ông vừa thúc giục người Pháp gây sức ép buộc lực lượng Trung Quốc nhiễu nhương phải rút đi, vừa cố gắng đạt được một thỏa thuận với Chính phủ Pháp – khi đó có tới 5 ghế Bộ trưởng được điều hành bởi người Cộng sản.

Chiến thuật của Hồ Chí Minh đã thành công. Quân Tưởng lui quân, còn người Pháp đồng ý công nhận Việt Nam là một “quốc gia tự do… nằm trong khối Liên hiệp Pháp”. Chính vào thời điểm trước thắng lợi quan trọng này – đỉnh cao của 20 năm nỗ lực không ngừng – tôi đã gặp Hồ Chí Minh lần đầu tiên, vào ngày 26/2/1946, tại dinh thự của viên toàn quyền Pháp cũ. Với tư cách là người đứng đầu chính phủ cách mạng ở Hà Nội, Hồ Chí Minh tiếp đón tôi, khi đó là một sĩ quan Pháp kiêm tùy viên báo chí bên cạnh Tướng Jacques-Philippe Leclerc, chỉ huy lực lượng quân đội Pháp. Đó quả là một cuộc hạnh ngộ lạ kỳ, còn Hồ Chí Minh cũng là một người kỳ lạ không kém.
Sau khi kết thúc chuyện trò, lòng tôi vừa vui mừng, vừa xúc động, và phần lớn là cảm giác yên tâm. Tôi đã nghĩ rằng, đây chắc chắn là một con người không thích cảnh đầu rơi, máu đổ, và vẫn giữ trong lòng một thứ tình cảm nồng nàn với văn hóa Pháp – đến mức mà ít nhất, tôi cũng có thể tìm thấy một điểm chung với ông.
Bản hiệp định được ký kết một tuần sau đó, vào ngày 6/3, và bị phá vỡ vào tháng 12, khi quân Pháp và lính Việt Minh xuất hiện giao tranh quân sự. 8 năm chiến tranh Đông Dương chính thức bắt đầu. Vào năm 1948, người Pháp đã cố gắng kết thúc chiến tranh bằng cách cắt cử Paul Mus, một học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu văn minh Việt Nam (hiện thời đang công tác tại Yale), làm đặc phái viên tới Hà Nội. Mus đề nghị quân Việt Minh đầu hàng, đổi lại, quân Pháp sẽ cân nhắc trao cho Việt Nam một vị trí trong Liên hiệp Pháp. “Đầu hàng ư, thưa ông?” Hồ Chí Minh hỏi. “Và một kẻ hèn nhát tới độ đó, liệu ông có cho rằng kẻ đó xứng đáng được gia nhập Liên hiệp của ông hay không?”
Tôi gặp lại Hồ Chí Minh vài lần sau Hiệp định Genèva năm 1954, khi cuộc chiến kết thúc bằng việc lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt thành các chính quyền riêng biệt ở hai miền Bắc, Nam. Lần cuối cùng tôi gặp ông là lần ở Hà Nội năm 1962, khi ông là Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khắc khổ. “Bác Hồ” dẫn dắt các “cháu” vừa bằng kỷ luật nghiêm khắc, vừa bằng dáng vẻ của một người ông hiền hậu. Ông không còn vẻ xanh xao của một người từng mắc bệnh lao; cuộc sống tĩnh lặng lúc về già đã mang lại vẻ hồng hào cho làn da ông.
Dáng người ông nhỏ nhắn, gầy gò, khiến tôi không khỏi cảm tưởng rằng chỉ có ý chí mới là thứ có thể khiến ông trụ vững. Ông vẫn phục sức như mọi lần tôi gặp gỡ ông, với một chiếc áo khoác màu cát kiểu quân nhân và đôi dép tông lạ kỳ theo phong cách của những người du dân. Vầng trán ông cao, hai mắt ngời sáng, cách xa nhau nhưng vẫn hết đỗi dịu dàng.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi ngày đó, ngẫm lại vẫn thấy sao mà kỳ lạ. Chúng tôi đàm đạo về những nhà thơ lãng mạn, về những tửu quán tại Paris – tuyệt nhiên nói rất ít về chính trị. Kế đó, sau khi khéo léo lảng tránh mọi thắc mắc của tôi về những khả năng xuất hiện một thỏa thuận với miền Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh bảo, bằng thứ ngữ âm không mấy tròn vành cùng thứ tiếng Pháp mang chút âm điệu Đức: “Giờ đây chúng tôi là những người tự do, vì thế, đừng đối xử với chúng tôi như quân Cờ Đen nữa và rồi chuyện giữa chúng tôi với các anh sẽ đâu vào đấy cả” (thật hiếm thấy, ông nói nhầm là papillons (có nghĩa là con bướm) thay vì pavillons (có nghĩa là lá cờ), vốn ám chỉ quân cướp “Cờ Đen” của những toán hải tặc người Hoa đã bị những người Pháp đầu tiên hiện diện ở Việt Nam đánh bại vào những năm 1880).
Ông nói với tôi về Tướng De Gaulle và Tướng Raoul Salan, khi đó là chỉ huy của tổ chức khủng bố O.A.S tại Algiers. “Lạ thật đấy”, ông nhận xét. “Trong hai người, đáng lẽ tôi phải nghĩ rằng De Gaulle mới là người trở thành kẻ khủng bố. Tôi đã thương lượng với Salan năm 1946. Ông ta là một người phong nhã và hết sức tư sản, kiểu tiểu tư sản điển hình”. Điều duy nhất ông đề cập tới Việt Nam là tuyên bố rằng miền Bắc sẽ không can thiệp vào công việc của miền Nam; ngoài ra, ông cũng không quá hấp tấp trong sự nghiệp thống nhất. “Chúng tôi hiện đã có đủ vấn đề để giải quyết ở miền Bắc rồi”.
Hồ Chí Minh là người lãnh đạo, nhưng không phải là người kiểm soát nhất cử nhất động mọi công việc hằng ngày. Nhiều nhà lãnh đạo ở Hà Nội từng mô tả cho tôi cách ông lắng nghe báo cáo, hai mắt khép hờ, điếu thuốc Camel bên khóe miệng. Ông thường nhẹ nhàng nêu ý kiến. Trong quá khứ, ông là cấp trên của những người hiện là đồng sự, tất cả họ đều là những học trò trung thành của ông. “Tôi là người chỉ dạy họ, bởi vậy họ sẽ không chống lại tôi”. Vị “đạo sư” Marxist này thường nói.
Ngày nay, khi hệ thống quản lý dần mang mô hình tập thể, Hồ Chí Minh cũng không còn phải đảm nhiệm quá nhiều vai trò như trước. Và bởi mối quan hệ gắn bó sâu sắc với Liên Xô, Hồ Chí Minh ít được công nhận như người phán xử độc tôn trong một đảng cầm quyền ngày càng có mối quan hệ mật thiết với Trung Quốc, đặc biệt là kể từ những năm 1960.
Về phía quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tham mưu trưởng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, được coi là người có khuynh hướng ủng hộ Liên Xô rõ rệt, giống như người thầy của ông là Hồ Chí Minh. Còn lại, đa số các sĩ quan trẻ được cho là nghiêng về phía Bắc Kinh, nơi được cho là có những sự giúp đỡ quan trọng hơn Moscow trong 5 năm qua.
Đối với những người ủng hộ mình, Hồ Chí Minh được xem như là vị “cha già cách mạng”, một con người có đức tính khiêm nhường với nụ cười hiền hậu, thường được gọi bằng danh xưng trìu mến là “cụ”. Ông không lập gia đình; trong sự nghiệp cách mạng đầy bão táp của mình, người ta cũng không hề nhìn thấy bóng hình của bất kỳ người phụ nữ nào. Chân dung của Hồ Chí Minh được treo ở mọi xí nghiệp, nhà máy, những cửa hàng quốc doanh hoặc tại những cuộc họp ông tới phát biểu. Sau mỗi cuộc họp, bao giờ ông cũng tham gia cùng quần chúng nhân dân, phát cam và kẹo bánh cho trẻ nhỏ, chia thuốc lá cho những người đồng chí.

Trong mô hình hiện đại của chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh nổi bật bởi ba đặc điểm: ông là một người Bolshevik kỳ cựu, một người theo cánh “hữu” và là một người châu Á. Ông từng là thành viên của bộ tham mưu chung của phong trào cộng sản thế giới trong thời kỳ mà Kosygin, Mao và Ulbricht đều còn là những cán bộ cấp thấp hoặc là những sinh viên vô danh. Ông xây dựng được mối quan hệ tốt với Stalin và Trotsky, với Zinoviev và Bukharin.
Ông đứng về phía Moscow do chính lịch sử của mình; ký ức ông gắn chặt ông với gốc gác quê hương của cuộc cách mạng cộng sản, đồng thời chia tách ông khỏi Trung Quốc, nơi ông từng trải qua những năm tháng tù đày đầy lao khổ. Đồng thời, Hồ Chí Minh ủng hộ sự hòa giải và “xét lại”. Ông thường mặc nhiên né tránh mọi dạng “giáo điều”, ông cũng không tự nhận mình là một học giả của chủ nghĩa Mác.
Nhờ sự giúp đỡ của Trung Quốc – chứ không phải Liên Xô, Tiệp Khắc hay Đông Đức, miền Bắc Việt Nam ngày nay có thể tự hào về một nền công nghiệp nặng đáng kể. Cũng nhờ Trung Quốc hỗ trợ, miền Bắc đã có thể đáp ứng tới 10% nhu cầu gạo thông qua nhập khẩu từ Bắc Kinh trong những năm từ 1954 đến 1962. Hiện nay, các quan sát viên Pháp đáng tin cậy như René Dumont, một nhà nông học từng có mặt ở miền Bắc Việt Nam năm 1964, cho rằng đất nước này đã có thể tự đảm bảo an ninh lương thực một cách tương đối. Tuy nhiên, để tồn tại không có nghĩa là để sống tốt, ngay cả trong một nhà nước cộng sản. Hà Nội vẫn cần gạo từ miền Nam để đảm bảo mức sống chấp nhận được cho người dân, đồng thời duy trì sự độc lập đối với Trung Quốc trong trường hợp xảy ra một cuộc khủng hoảng lương thực khác.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn phải đối mặt với những khó khăn khác. Khó khăn lớn nhất, dĩ nhiên là bài toán tiếp quản chính quyền miền Nam – điều mà có lẽ trong quá khứ ông từng cố trì hoãn, nhưng giờ đây nhất định phải thực hiện. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận), một tổ chức do người miền Nam thành lập vào tháng 3[9] năm 1960, đã được Đảng Lao Động công nhận và bảo trợ vào tháng 9 cùng năm. Kể từ đó, tổ chức này nhận được sự hỗ trợ từ Hà Nội, với đạn dược, thông tin liên lạc và một phần kế hoạch tác chiến từ Tướng Giáp. Và mặc dù Hà Nội có lực lượng cơ sở của mình bên trong nội bộ Mặt trận, nhưng Mặt trận vẫn duy trì được quyền tự quyết và độc lập tương đối lớn. […]■
Jean Lacouture
Toàn Thắng (dịch)
Chú thích:
[1] Maurice Thorez (1900–1964): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp trong nhiều thập kỷ.
[2] Palmiro Togliatti (1893–1964): Lãnh đạo lâu năm của Đảng Cộng sản Ý.
[3] Ở đây tác giả bài báo nhầm lẫn về mặt thông tin. Bác Hồ sinh ra tại Nam Đàn, Nghệ An.
[4] Sự chia rẽ tại Đại hội Tours năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, khi phe của Léon Blum phản đối việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tách ra để duy trì đường lối xã hội chủ nghĩa độc lập, trong khi phe của Marcel Cachin lại ủng hộ gia nhập, sau đó thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
[5] Có thể tác giả để cập tới thi phẩm Nạn hữu xuy địch (dịch nghĩa: Người bạn tù thổi sáo), là bài thơ thứ 15 trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh.
[6] Có lẽ là tác giả nhầm lẫn về mặt thông tin. Thực chất, năm 1941, Việt Nam Độc lập Đồng minh hội được thành lập tại Pác Bó, Cao Bằng.
[7] Władysław Gomułka (1905 – 1982): Nhà lãnh đạo cộng sản Ba Lan.
[8] Tác giả nhầm lẫn về mặt thông tin, chính xác phải là năm 1945.
[9] Tác giả nhầm lẫn về mặt thông tin, chính xác phải là tháng 12.