Trong vòng chưa đầy hai tuần, Việt Nam liên tiếp đón hai nhà lãnh đạo hàng đầu của Đông Bắc Á: Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung thăm cấp Nhà nước từ ngày 21 đến 24/4/2026 và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae thăm chính thức từ ngày 1 đến 3/5/2026. Nếu nhìn riêng lẻ, đó là hai hoạt động ngoại giao song phương quan trọng. Nhưng nếu đặt cạnh nhau, hai chuyến thăm cho thấy một chuyển động lớn hơn: Việt Nam đang nổi lên như một đối tác có vị trí ngày càng quan trọng trong cấu trúc kinh tế, an ninh và ngoại giao của khu vực.

Điều đáng chú ý trước hết là thời điểm. Chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam diễn ra ngay sau khi Việt Nam kiện toàn ban lãnh đạo sau bầu cử Quốc hội khóa XVI. Giới phân tích ngoại giao quốc tế đánh giá đây là minh chứng cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Hàn Quốc và mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai nước. Chỉ một tuần sau đó, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đến Hà Nội trong chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Việt Nam trên cương vị người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản. Đây cũng là một dấu mốc mang tính biểu tượng rất cao.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Lễ đón chính thức Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung trước hội đàm, ngày 22/4/2026. Ảnh: TTXVN

Nhìn từ bên ngoài, việc lãnh đạo Hàn Quốc và Nhật Bản liên tiếp chọn Việt Nam là điểm đến không phải ngẫu nhiên. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, kinh tế thế giới phân mảnh và an ninh năng lượng, an ninh công nghệ trở thành ưu tiên mới, Việt Nam đang hội tụ nhiều giá trị: vị trí địa chính trị quan trọng ở Đông Nam Á, nền kinh tế mở, tốc độ tăng trưởng cao, lực lượng lao động lớn, môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại rộng và vai trò ngày càng chủ động trong ASEAN cũng như các diễn đàn quốc tế.

Hàn Quốc tìm một đối tác cùng bước vào giai đoạn công nghiệp – công nghệ mới

Với Hàn Quốc, chuyến thăm của Tổng thống Lee Jae Myung mang ý nghĩa củng cố một trong những quan hệ song phương phát triển nhanh nhất trong ba thập niên qua. Hàn Quốc hiện là một trong những nhà đầu tư lớn nhất, đối tác thương mại hàng đầu và là nguồn vốn, công nghệ, nhân lực quản trị quan trọng đối với tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam. Năm 2025 kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc đạt 89,5 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2024. Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam.

Tuy nhiên, mục đích của chuyến thăm lần này không chỉ là duy trì các trụ cột cũ. Hàn Quốc không chỉ nhìn Việt Nam như một cứ điểm sản xuất chi phí cạnh tranh, mà ngày càng nhìn Việt Nam như một đối tác trong tái cấu trúc công nghiệp. Các nội dung được nhấn mạnh trong khuôn khổ chuyến thăm – chuyển đổi số, AI, bán dẫn, hạ tầng số, công nghệ xanh, trung hòa carbon, đất hiếm, đào tạo nhân lực khoa học chất lượng cao – cho thấy hai nước bước vào tầng hợp tác mới: từ gia công, lắp ráp và thương mại hàng hóa sang hợp tác công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuỗi giá trị có hàm lượng tri thức cao hơn.

Thông điệp này được thể hiện rõ tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc. Tổng thống Lee Jae Myung nhấn mạnh “tương lai của Việt Nam chính là cơ hội của Hàn Quốc”. Câu nói này không chỉ là nghi thức ngoại giao. Nó phản ánh một thực tế chiến lược: sự phát triển của Việt Nam đang mở ra không gian mới cho chính Hàn Quốc. Hàn Quốc tới Việt Nam giờ không chỉ để lắp ráp hàng gia công mà là để cùng xây dựng hệ sinh thái công nghiệp, cùng đào tạo nhân lực, cùng tham gia chuỗi cung ứng khu vực, cùng xử lý các vấn đề mới đối với kinh tế và an ninh khu vực. Vì vậy, việc hai bên trao 12 văn kiện hợp tác cho thấy quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc đang được không chỉ mở rộng theo chiều ngang mà còn nâng cấp theo chiều sâu.

Chắc chắn đối với Hàn Quốc, Việt Nam có vai trò đặc biệt trong chiến lược đối ngoại. Đây là nơi tập trung cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc lớn nhất, là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng của nhiều tập đoàn Hàn Quốc. Việt Nam cũng là cửa ngõ để Hàn Quốc gắn kết sâu hơn với ASEAN – khu vực mà Seoul coi là không gian tăng trưởng và cân bằng chiến lược quan trọng.

Nhật Bản tìm một đối tác chiến lược trong an ninh kinh tế và trật tự khu vực

Nếu chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc nhấn mạnh công nghiệp, đầu tư và công nghệ, thì chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae cho thấy một tầng ý nghĩa mở hơn: Việt Nam đang được Tokyo nhìn nhận như một đối tác chiến lược trong cả phát triển kinh tế, và quan trọng hơn, là trong chiến lược thiết lập trật tự Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương do Nhật Bản khởi xướng.

Trước chuyến thăm, phía Nhật Bản cho biết mục tiêu là củng cố quan hệ tin cậy giữa lãnh đạo hai nước và thảo luận các lĩnh vực hợp tác quan trọng như kinh tế, năng lượng và giao lưu nhân dân. Nhật Bản hiện là nhà tài trợ ODA lớn nhất, đối tác hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư lớn thứ ba, đồng thời là đối tác du lịch và thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Tính đến ngày 31/1/2026, Nhật Bản có 5.722 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 78,9 tỷ USD.

Những con số này cho thấy quan hệ Việt Nam – Nhật Bản không phải quan hệ thời vụ, mà là một cấu trúc hợp tác lâu dài. ODA Nhật Bản gắn với nhiều công trình hạ tầng quan trọng của Việt Nam. Điểm nổi bật là các văn kiện hợp tác Việt Nam – Nhật Bản lần này không chỉ xoay quanh thương mại, mà tập trung vào những lĩnh vực phản ánh các thách thức của thời đại: hạ tầng thích ứng với thiên tai, phát triển nông thôn, biến đổi khí hậu, tăng trưởng carbon thấp, chuyển đổi số, thông tin – truyền thông và công nghệ vũ trụ. Đây là những lĩnh vực Việt Nam rất cần trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế, đồng thời cũng là các lĩnh vực Nhật Bản có thế mạnh về vốn, công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn.

Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae chứng kiến trao Bản ghi nhớ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông và chuyển đổi số. Ảnh: Thành Long

Về kinh tế, hai bên thống nhất các biện pháp để sớm đưa đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đạt 5 tỷ USD mỗi năm và kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 60 tỷ USD vào năm 2030. Đây là mục tiêu có ý nghĩa chính sách lớn. Nó cho thấy Nhật Bản không chỉ muốn duy trì vị thế nhà đầu tư truyền thống, mà còn muốn tăng tốc trong bối cảnh nhiều nước đang tìm kiếm địa điểm sản xuất ổn định, an toàn và có khả năng kết nối thị trường rộng.

Nhưng quan trọng hơn là về chiến lược, chuyến thăm của Thủ tướng Takaichi Sanae còn gắn với thông điệp về Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Trong chuyến thăm, bà có bài phát biểu chính sách tại Đại học Quốc gia Hà Nội, gửi đi thông điệp về tương lai quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Nhật Bản và công bố các cập nhật quan trọng trong sáng kiến Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP) của Nhật Bản. Chiến lược này là một tầm nhìn do Nhật Bản khởi xướng nhằm xây dựng một khu vực ổn định, nơi các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế, đảm bảo an ninh hàng hải và tự do thương mại. Việc lựa chọn Hà Nội để trình bày thông điệp chính sách khu vực cho thấy Việt Nam không chỉ là đối tác song phương, mà còn là một địa chỉ có trọng lượng trong tư duy chiến lược của Tokyo.

Tái định vị quan hệ với Việt Nam trong một trật tự đang biến động

Điểm chung đáng chú ý trong cả hai chuyến thăm là cách lãnh đạo Hàn Quốc và Nhật Bản nói về Việt Nam. Tổng thống Hàn Quốc nhấn mạnh sự năng động của Việt Nam, gọi Việt Nam là trái tim kinh tế của ASEAN. Thủ tướng Nhật Bản dùng hình ảnh Thăng Long “rồng bay lên” để nói về tốc độ phát triển ấn tượng của Việt Nam, đồng thời đánh giá Việt Nam là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng và là quốc gia đề cao tự chủ chiến lược, triển khai đường lối đối ngoại tích cực, chủ động.

Những đánh giá ấy không chỉ là lời khen ngoại giao. Chúng phản ánh sự thay đổi trong vị thế thực tế của Việt Nam. Trong một thế giới mà người dân, các doanh nghiệp và chính phủ đều tìm kiếm “độ tin cậy”, Việt Nam nổi lên như một địa chỉ có thể kết hợp ba yếu tố: an ninh chính trị ổn định, tăng trưởng nhanh và kết nối mạnh mẽ.

Hai chuyến thăm cũng cần được đặt trong bối cảnh khu vực rộng hơn. Các nền kinh tế lớn phải điều chỉnh trước cạnh tranh địa chính trị, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chủ nghĩa bảo hộ mới trong một thế giới đầy bất định. Trong bối cảnh ấy, Hàn Quốc và Nhật Bản khi đến Việt Nam không chỉ là tăng cường hữu nghị hay với mục đích kinh tế đơn thuần, mà còn mong muốn tái định vị quan hệ với Việt Nam để chuẩn bị cho một giai đoạn cạnh tranh mới. Hàn Quốc cần Việt Nam như một trung tâm sản xuất, thị trường và đối tác công nghệ ở ASEAN. Nhật Bản cần Việt Nam như một đối tác hạ tầng, năng lượng, chuỗi cung ứng và chiến lược khu vực. Cả hai đều cần một Việt Nam ổn định, phát triển và có vai trò lớn hơn trong cấu trúc khu vực.

Về phía Việt Nam, hai chuyến thăm cho thấy đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa vẫn đang tiếp tục tạo ra không gian chiến lược rộng cho đất nước. Việt Nam không đứng về một phe trục để đối đầu với bất kỳ bên nào, mà chủ động mở rộng hợp tác với các đối tác lớn trên cơ sở lợi ích quốc gia, tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi và cùng đóng góp cho hòa bình, ổn định. Việc đồng thời làm sâu sắc quan hệ với Hàn Quốc và Nhật Bản cho thấy đối ngoại Việt Nam đang vận hành linh hoạt trong môi trường quốc tế phức tạp.

Hai chuyến thăm cấp cao vì vậy không nên được nhìn như những sự kiện lễ tân nối tiếp nhau. Đó là những dấu mốc phản ánh một thực tế ngày càng rõ nét: Việt Nam đang trở thành điểm kết nối của nhiều lợi ích chiến lược trong khu vực. Vấn đề còn lại là Việt Nam tận dụng vị thế ấy như thế nào. Vị thế quốc tế chỉ thật sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa để nâng cao năng lực nội tại của đất nước. Tận dụng thành công, Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, nhanh và bền vững hơn trong thời đại mới.■

BÌNH LUẬN

BÀI BÌNH LUẬN KHÁC