Nhìn lại lịch sử

Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) trở thành đồng minh sau Thế chiến thứ II và cùng chia sẻ nhiều giá trị về dân chủ, nhân quyền, song đây cũng là mối quan hệ có quá nhiều cung bậc, thay đổi và biến thiên qua các giai đoạn lịch sử, chịu ảnh hưởng, phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của các đời Tổng thống Mỹ và bối cảnh địa chính trị toàn cầu.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong mối quan hệ đồng minh xuyên Đại Tây Dương Mỹ – EU chính là việc hai bên đã xây dựng được một mối liên minh chống Liên Xô trước đây và Nga ngày nay, thông qua NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) sau khi Mỹ triển khai Kế hoạch Marshall (1948), cung cấp hàng tỷ USD để tái thiết khôi phục kinh tế châu Âu và đặc biệt “ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản”! Việc thành lập NATO năm 1949 được coi như một cột mốc đánh dấu cam kết bảo vệ an ninh châu Âu của Mỹ, thể hiện sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên mà ở đó Mỹ vẫn giữ vai trò là người lãnh đạo.

Kể từ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh cho đến thời kỳ Liên Xô sụp đổ cuối năm 1991, NATO đã tái định hình vai trò của mình thông qua sự hỗ trợ mạnh mẽ của Mỹ và ngày càng mở rộng về phía Đông, bắt đầu với Ba Lan, Hungary, Czech. NATO đã bắt đầu được thúc đẩy để can thiệp vào một số cuộc xung đột ở vùng Balkan (Bosnia, Kosovo).

Lễ thượng cờ đánh dấu sự gia nhập của Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan vào NATO tại trụ sở NATO ở Brussels, Bỉ, tháng 3/1999. Ảnh: NATO

Quan hệ Mỹ – EU thường xuyên bị thử thách, có những giai đoạn mối quan hệ này bị tụt dốc rõ rệt khi EU không ủng hộ việc Mỹ tiến hành các cuộc chiến tranh tại một số khu vực trên thế giới hoặc thể hiện ý chí và mong muốn tự chủ hơn về an ninh và kinh tế. Tuy nhiên, cả hai bên đều cố gắng có sự điều chỉnh cần thiết để duy trì một mối quan hệ “như cần phải có” khi tìm cách hàn gắn, cải thiện quan hệ thông qua các hoạt động ngoại giao đa phương liên quan đến các vấn đề toàn cầu như khí hậu, môi trường và khủng bố…

Trải qua nhiều đời Tổng thống từ Tổng thống Bush, Clinton, Obama, về cơ bản Mỹ duy trì và thúc đẩy chính sách củng cố NATO, thông qua NATO triển khai lực lượng quân sự Mỹ tại châu Âu, tăng cường đối đầu với Liên Xô – Nga. Dưới thời chính quyền của Tổng thống Biden (2021 – 2024), Mỹ đã tìm mọi cách để khôi phục lại liên minh truyền thống với EU cũng như tập trung chủ yếu vào việc tái cam kết ủng hộ quân sự cho NATO.

Trong những năm 1990, phương Tây, đặc biệt là Mỹ và NATO, đã có cam kết với Liên Xô (sau này là Nga) rằng NATO sẽ không mở rộng về phía Đông ngoài nước Đức thống nhất, tuy nhiên NATO đã phá vỡ cam kết khi kết nạp Ba Lan, Cộng hòa Séc, và Hungary vào năm 1999. Cho đến nay, NATO mở rộng về phía Đông sau khi kết nạp Montenegro năm 2017 và Bắc Macedonia năm 2020. Với việc kết nạp Phần Lan năm 2023 và Thụy Điển năm 2024, biên giới NATO đã áp sát Nga đồng thời cuộc chiến chống Nga của Mỹ và phương Tây ngày càng mạnh hơn.

Chính việc NATO liên tục mở rộng sát biên giới Nga đã làm cho nước Nga cảm thấy mình bị phương Tây phản bội, không tôn trọng lợi ích và đe dọa trực tiếp an ninh Nga, và coi NATO là mối đe dọa trực tiếp đến an ninh của mình.

Munich năm 2007: “Tuyên ngôn” về chính sách đối ngoại độc lập của Nga

Sau giai đoạn Chiến tranh Lạnh, vào thập niên 1990 khi nước Nga suy yếu, phụ thuộc vào nguồn viện trợ của phương Tây về mọi mặt, nên không có vai trò trong các vấn đề toàn cầu, cũng không có khả năng đáp trả và phản ứng với sự mở rộng của NATO. Tuy nhiên kể từ khi Tổng thống Putin lên nắm quyền vào năm 2000, nước Nga đã phục hồi mạnh mẽ, trở thành một cường quốc với nền kinh tế đang phát triển, quân đội được hiện đại hóa với kho vũ khí hạt nhân đáng gờm.

Tại Hội nghị an ninh Munich năm 2007, lần đầu tiên Tổng thống Nga Putin đã đưa ra một “Tuyên ngôn” mạnh mẽ về chiến lược đối ngoại độc lập cũng như về vai trò và tham vọng định hình lại trật tự thế giới của Nga, mở đường cho sự hình thành một trật tự thế giới mới đa cực. Cũng từ đó Nga thúc đẩy chiến lược tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và nhiều quốc gia khác nhằm xây dựng một “liên minh các cường quốc kinh tế mới nổi không thuộc phương Tây” đối trọng với sự thống trị của Mỹ, đó chính là BRICS.

Nhiều nhà quan sát nhận định rằng “Tuyên ngôn” này như một lời cảnh báo về việc nước Nga không còn chấp nhận giữ vai trò thứ yếu và công khai thách thức mô hình đơn cực của Mỹ và phương Tây trong cuộc cạnh tranh địa chính trị toàn cầu, khởi đầu cho giai đoạn căng thẳng Nga – Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, những lời cảnh báo của Tổng thống Putin tại Hội nghị Munich 2007 về tương lai bất ổn của thế giới, đã được chiêm nghiệm trên thực tế trong thời gian qua, đặc biệt ở châu Âu và Trung Đông cũng như việc Ukraine xin gia nhập NATO.

Trong 4 năm nhiệm kỳ của chính quyền Biden, quan hệ Mỹ – Nga không chỉ bị chi phối bởi những mâu thuẫn mang tính chiến lược mà còn phản ánh sự phân cực rõ rệt trong trật tự thế giới hiện nay. Kể từ cuộc khủng hoảng Crimea năm 2014 và đỉnh điểm với cuộc chiến nổ ra tại Ukraine từ 24/2/2022 đã đẩy quan hệ Nga – Mỹ vào trạng thái trượt dài xuống mức thấp chưa từng có.

Những thay đổi về chiến lược của chính quyền Trump 2.0

Ngay khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai vào đầu năm 2025 với chính sách “Nước Mỹ trên hết”, chính quyền Trump 2.0 đã cho thấy sự thay đổi đáng kể về chiến lược trong quan hệ với EU, Nga và NATO so với chính quyền Biden. Ông Trump theo đuổi chính sách thực dụng, tập trung vào lợi ích kinh tế và chiến lược của Mỹ, giảm bớt vai trò lãnh đạo “truyền thống” cũng như gánh nặng tài chính, quân sự của Mỹ đối với châu Âu thông qua NATO.

– Trước hết về thương mại, Chính quyền Trump 2.0 đã tỏ ra rất cứng rắn, áp dụng các biện pháp bảo hộ, áp thuế cao đối với hàng hóa châu Âu vào Mỹ, đã đẩy EU vào thế bị động phải tìm cách thương lượng tập thể với Mỹ và đáp ứng các yêu cầu thương mại của Mỹ. Quan hệ kinh tế xuyên Đại Tây Dương gia tăng căng thẳng kể từ khi ông Trump lên cầm quyền. Mặt khác Mỹ tăng cường hợp tác song phương thay vì đa phương, ưu tiên các thỏa thuận song phương với từng quốc gia châu Âu thay vì làm việc thông qua các thể chế đa phương như EU.

– Điểm chú ý nữa là Mỹ tái định vị quan hệ với Nga. Tám tháng qua chính quyền Trump 2.0 đã có sự điều chỉnh chóng mặt chính sách đối với Nga: Những bước đi của chính quyền Trump 2.0 trong những ngày đầu tiên tại vị tạo cảm giác “hòa dịu, tan băng”. Tuy nhiên từ tháng 7 vừa qua, khi Tổng thống Putin có nhiều động thái và phản ứng chứng tỏ là một lãnh đạo cứng rắn, không đáp ứng các yêu cầu của Mỹ, khiến vai trò sứ giả hòa bình của ông Trump bị thất bại thì chính quyền Trump đã cho thấy sự đảo chiều mạnh mẽ. Họ mặc nhiên định vị nước Nga như kẻ thù số một, áp đặt thời hạn cho giải pháp Ukraine và ra lệnh trừng phạt kể cả các quốc gia có quan hệ thương mại với Nga từ 100% đến 500%, thể hiện rõ bản chất cạnh tranh mạnh mẽ với Nga.

Với cuộc chiến tại Ukraine, chính quyền Trump 2.0 cũng đột ngột xoay chuyển từ quyết định ngừng viện trợ cho Ukraine, gây áp lực cho NATO và Ukraine, chuyển ngay sang chính sách ủng hộ cuộc chiến tại Ukraine và dùng chiến tranh để làm suy yếu Nga như chính quyền Biden đã từng tiến hành, cả Thượng và Hạ viện Mỹ đều ủng hộ sự xoay chuyển này. Điều đó cho thấy chính sách nhất quán của Mỹ vẫn là trở lại con đường chiến tranh. Mặt khác họ cũng tấn công Nga mạnh mẽ trên mặt trận truyền thông, lên án Nga không muốn kết thúc chiến tranh.

Chính sách đối ngoại của Mỹ cho thấy cách tiếp cận thực dụng, đầy toan tính một cách kỹ lưỡng bởi Mỹ đang định vị lại vị thế của chính mình và của Nga trong mối quan hệ phức tạp trên trường quốc tế. Chính quyền Trump đã tính toán khôi phục lại đối thoại và tranh thủ tối đa mọi kênh cần thiết, hữu ích để tạo không gian chiến lược trong quan hệ song phương với Nga, để vừa giữ thế bảo vệ lợi ích của Mỹ, vừa giữ được quan hệ với đối thủ quan trọng, cô lập Trung Quốc… nhưng khi không đạt được mục tiêu, không được phía Nga đáp ứng thì họ sẽ đổi chiều ngay lập tức.

Điều chỉnh mạnh mẽ chính sách với NATO

Một trong những điều chỉnh chiến lược rõ rệt nhất của chính quyền Trump 2.0 đó là chính sách đối với NATO. Trong chiến lược của Trump 2.0, NATO được định hình lại, không chỉ là một liên minh quân sự mà như một công cụ để Mỹ thực hiện nhiều mục tiêu:

– NATO được coi như một Lá chắn chiến lược để giảm cam kết trực tiếp và yêu cầu EU tự chủ: Từ khi lên nắm quyền tại nhiệm kỳ 2, ông Trump tỏ ra không hề mặn mà với vai trò “cảnh sát toàn cầu” của Mỹ như các đời Tổng thống khác và đã nhiều lần tuyên bố yêu cầu các đồng minh NATO, đặc biệt là các nước EU phải đứng ra tự chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì an ninh tại khu vực châu Âu. Như vậy Mỹ sẽ giảm bớt việc triển khai lực lượng và tài trợ quân sự của Mỹ tại châu Âu, tập trung vào các ưu tiên chiến lược khác, đặc biệt là cạnh tranh với Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

– Gây áp lực tăng chi tiêu quốc phòng: Chính quyền Trump tiếp tục gây áp lực để buộc các nước NATO tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP, vượt xa mục tiêu 2% hiện tại. Mỹ đã tranh thủ được sự ủng hộ của Tổng thư ký NATO cho rằng quyết định này sẽ tăng cường khả năng phòng thủ của liên minh, thành công khi cùng NATO đạt được sự thống nhất về kế hoạch Mỹ sẽ cung cấp vũ khí, trong đó các nước NATO như Đức, Phần Lan, Đan Mạch và Anh sẽ tài trợ chi phí.

Chính quyền Trump 2.0 đã có sự thay đổi đáng kể về chiến lược trong quan hệ với EU và NATO so với chính quyền tiền nhiệm. Hình minh họa

– Định vị Mỹ như nhà cung cấp vũ khí: Với sự chuyển hướng trên, Mỹ không còn đóng vai trò là nhà tài trợ chính cho Ukraine mà chuyển sang vai trò của một “Nhà buôn vũ khí”. NATO trở thành một kênh để Mỹ bán vũ khí cho các đồng minh châu Âu. Các hợp đồng mua bán vũ khí do Mỹ sản xuất như hệ thống Patriot, Himars, đạn pháo sẽ được EU hoặc các đồng minh NATO thanh toán để từ đó chuyển giao cho Ukraine. Với cơ chế này, Mỹ sẽ  giảm gánh nặng tài chính, đồng thời thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng, một ngành trụ cột của nền kinh tế Mỹ. Ông Trump cũng đã tuyên bố rõ ràng rằng Ukraine sẽ phải hoàn trả 100% chi phí viện trợ quân sự!

– Giảm rủi ro đối đầu trực tiếp với Nga: Bằng cách đẩy mạnh vai trò của NATO trong việc hỗ trợ Ukraine, Mỹ tránh được nguy cơ đối đầu trực tiếp với Nga, đặc biệt trong bối cảnh Trump muốn định vị Mỹ như một trung gian hòa bình. NATO, với sự tham gia của nhiều quốc gia, trở thành lá chắn giúp Mỹ phân tán trách nhiệm và giảm nguy cơ bị coi là bên đối đầu chính với Nga. Điều này đặc biệt rõ ràng khi Trump yêu cầu các nước NATO tài trợ chi phí vũ khí cho Ukraine, trong khi Mỹ chỉ đóng vai trò cung cấp công nghệ và hậu cần.

– Tạo khoảng cách với các vấn đề nội bộ EU: Trump sử dụng NATO như một công cụ để kiểm soát và định hướng các đồng minh châu Âu, nhưng lại không để bị lôi kéo vào các vấn đề nội bộ của EU khi Mỹ thúc đẩy việc duy trì quan hệ với từng quốc gia thành viên mà không cần can dự sâu vào các cuộc đàm phán phức tạp với EU như một khối thống nhất. Như vậy vừa linh hoạt hơn vừa hiệu quả hơn trong chính sách đối ngoại cho Mỹ.

Những điều chỉnh của chính quyền Trump 2.0 nói lên điều gì?

– Trước hết, đó là sự khác biệt lớn trong cách tiếp cận của hai chính quyền Trump và Biden xuất phát từ cách đánh giá về nước Nga, về giải quyết cuộc chiến Ukraine và vai trò của NATO.

Chính quyền Biden thiên về đối đầu toàn diện, thắt chặt quan hệ liên minh truyền thống với EU và NATO, củng cố sức mạnh cho mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, nỗ lực duy trì viện trợ quân sự, áp đặt sức mạnh cho Ukraine để lật ngược tình thế chiến thắng Nga và làm Nga suy yếu về mọi mặt, ủng hộ nhiệt thành việc Ukraine gia nhập NATO.

Với chính quyền Trump 2.0, Nga vẫn là đối thủ cạnh tranh và cần làm suy yếu, nhưng Trump tiếp cận theo góc độ lợi ích kinh tế tài chính và lợi nhuận, tính đến các cơ chế tham vấn và đối thoại trong khả năng có thể. Việc thay đổi lập trường với Nga phản ánh sự chuyển hướng trong chiến lược đối ngoại, đó là sự kết hợp giữa giảm cam kết an ninh, thúc đẩy lợi ích kinh tế, và tái định vị Mỹ như một trung gian kiến tạo hòa bình trong xung đột Ukraine. Mỹ không đổ tiền vô ích vào một cuộc chiến mà họ đánh giá là sẽ sa lầy mà tìm cách để tìm ra lối thoát qua thương lượng hoặc có thể “thay ngựa giữa đường”.

Sự điều chỉnh chiến lược này phù hợp với chính sách “Nước Mỹ trên hết” vì lợi ích của Mỹ khi Mỹ có thể trút được gánh nặng cuộc chiến cho EU, mặt khác cũng đã sử dụng những hợp đồng khai thác khoáng sản quý hiếm như áp lực về món nợ treo trên đầu Ukraine. Khi Mỹ tránh tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tại Ukraine thì bản thân ông Trump tạo được cảm giác mình chỉ là người giải quyết hậu quả của chính quyền Biden, đổ lỗi trực tiếp cho ông Biden là người gây ra và kéo dài cuộc chiến tranh. Có những nhận xét cho rằng Trump vẫn muốn duy trì mối quan hệ kinh tế, làm ăn với Nga, mặt khác đẩy được gánh nặng chiến tranh Ukraine cho EU để tập trung vào Trung Đông, Trung Quốc.

– Điểm thứ hai, có thể thấy đó là sự suy giảm vai trò chiến lược của NATO khi chính quyền Trump đánh giá rằng vai trò của NATO “có phần lạc hậu lỗi thời”, không còn phù hợp với các ưu tiên chiến lược của Mỹ, khi Trump xác định Trung Quốc là đối thủ chính và Mỹ tập trung vào khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Trung Đông. Theo cách tiếp cận đó, vai trò của NATO với tư cách là một liên minh sẽ không còn giữ thế đơn cực, độc tôn, quan trọng như trước mà đang bị thu hẹp, cần định hình lại để phục vụ lợi ích kinh tế, quân sự cũng như vai trò địa chính trị của Mỹ.

Trong bối cảnh hiện nay chính quyền Trump 2.0 sử dụng NATO để Mỹ duy trì sự lãnh đạo ở châu Âu mà không phải sử dụng sức mạnh trực tiếp và chi phí nhiều về tài chính. Bằng cách đẩy trách nhiệm về cuộc chiến Ukraine sang EU và định vị Mỹ như một nhà cung cấp vũ khí, Trump vừa giảm gánh nặng cho Mỹ, vừa tối đa hóa lợi ích kinh tế từ ngành công nghiệp quốc phòng.

Vì vậy, Mỹ không bao giờ “từ bỏ” NATO cũng như không bao giờ bỏ Ukraine, nhưng cho thấy họ sẽ không tham gia quá sâu và trực tiếp, Mỹ sẽ tham gia theo cách “ Có Mỹ mà không có Mỹ”.

– Điểm thứ ba là, Mỹ sử dụng NATO như một bàn đạp để chống Nga, nhưng thông qua EU khi buộc EU phải gánh vác, tự lo việc chống Nga. Như vậy Mỹ vừa có thể nắm NATO trong tay, lại vừa mặc cả được với Nga, hoặc để “tạo sự phối hợp với Nga”, hoặc giảm đối đầu Mỹ – Nga và tách Nga dần khỏi Trung Quốc. Những thỏa thuận trao đổi trong thời gian đầu nhiệm kỳ của chính quyền Trump 2.0 giữa Mỹ và Nga về Ukraine thực chất mục tiêu chỉ để giữ cho Ukraine không bị tiêu diệt và nếu theo ý đồ của ông Trump thì nếu có hòa bình thì đó là do Mỹ – Nga đem lại và không có EU.

Tình hình chiến sự cũng như thế sự đang diễn biến tại Ukraine cho thấy rõ Tổng thống Zelenski đang trong tình trạng hết sức bi đát. EU vừa qua đã phần nào thuyết phục được chính quyền của ông Trump quay trở lại viện trợ cho Ukraine nhưng chủ yếu chỉ là bán vũ khí cho EU.

– Điểm thứ tư, đáng chú ý là chính sách của chính quyền Trump 2.0 đã và đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho EU, NATO trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.

Với EU và NATO đây được coi là cơ hội để buộc EU và NATO phải điều chỉnh lại chiến lược, thúc đẩy EU theo hướng tự chủ hơn trong quốc phòng, giảm sự phụ thuộc vào “ô an ninh hạt nhân” của Mỹ. Đây cũng được coi là cơ hội để nhiều quốc gia thành viên NATO thể hiện vai trò, đặc biệt là Đức và Pháp, Anh. Giữa tháng 7 vừa qua Anh Đức Pháp vừa ký thỏa thuận hợp tác quốc phòng mang tên Hiệp định Kensington nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng ba bên ngoài khuôn khổ NATO. Thủ tướng Đức tuyên bố sẵn sàng tăng chi tiêu quốc phòng lên tới 3,5% GDP và 1,5% nữa cho cơ sở thiết yếu với mục tiêu biến Đức trở thành đầu tàu của châu Âu, có vai trò chủ chốt hơn trong NATO, nhằm thay thế vị trí của Mỹ. Trong khi đó các nước Bắc Âu gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan đã rũ bỏ hình ảnh trung lập nổi tiếng, trở thành những quốc gia EU tài trợ nhiều nhất cho Ukraine tính theo dân số và đã có những bước đi quyết đoán nhằm mở ra một cấu trúc an ninh khu vực mới ít phụ thuộc hơn vào Mỹ…

Anh và Đức vừa ký kết một hiệp ước phòng thủ quan trọng vào tháng 7/2025, cam kết hỗ trợ nhau khi một bên bị tấn công. Hình ảnh tại cuộc tập trận Steadfast Defender năm 2024 của NATO. Ảnh: British Army

Tuy nhiên những thách thức mà châu Âu và NATO phải đối phó là không hề nhỏ. Trước hết với việc đòi hỏi về việc tăng ngân sách quốc phòng lên mức 5% của Mỹ đã gây ra sự chia rẽ sâu sắc trong nội bộ EU và NATO. Một số nước Đông Âu như Ba Lan và các nước Baltic lo ngại về việc Mỹ giảm cam kết, trong khi các nước Tây Âu như Pháp và Đức đang tập trung thúc đẩy mạnh tự chủ chiến lược. Đối với nhiều quốc gia việc tăng ngân sách quốc phòng lên 5% thực sự là gánh nặng và đã phản đối dữ dội như Hungary, Italy, Tây Ban Nha…

EU và NATO đang phải chịu một  áp lực tài chính và chính trị rất lớn trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nội bộ bất ổn nhưng các nước EU, đặc biệt hai nước đầu tàu là Pháp và Đức đã phải tăng chi tiêu quân sự một cách vô lý trong khi vẫn không thể thực hiện được ước mơ tự chủ chiến lược quốc phòng. EU vẫn phải phụ thuộc vào vũ khí hiện đại và hệ thống tình báo của Mỹ.

Mặt khác thách thức rất lớn chính là sự chia rẽ trong nội bộ EU. Nhìn chung EU không thống nhất như năm 2022, có sự phân tâm rõ rệt, Đức Pháp Anh muốn tách Mỹ, có độc lập nhưng thực tế không có tiềm lực và hô hào mọi người ủng hộ xu thế này nhưng không có bước đi cụ thể và cũng không thành công. Các nước Bắc Âu, Baltic, Đông Âu không thoát được Mỹ và không muốn bị bỏ rơi, vẫn muốn gắn với Mỹ, trong khi đa số các nước Tây Âu muốn độc lập, thoát Mỹ.

Một thách thức khác đó chính là tính bất ổn định và khó định đoán của cá nhân ông Trump trong chính sách thuế quan không khoan nhượng với EU cùng những lời đe dọa liên tục rút khỏi hoặc không bảo vệ các đồng minh nếu không đóng góp đủ ngân sách quốc phòng càng làm tăng sự bất ổn trong NATO, khiến cho việc hoạch định chính sách của EU nói chung cũng như định hình về vai trò của NATO trong tương lai càng thêm khó khăn.

Chính sách của Trump cũng đặt Ukraine vào tình thế khó khăn. Việc yêu cầu hoàn trả viện trợ và từ chối ủng hộ tư cách thành viên NATO làm giảm vị thế đàm phán của Ukraine với Nga. Dù Mỹ tuyên bố tiếp tục cung cấp vũ khí, sự hỗ trợ này mang tính thương mại nhiều hơn là chiến lược, khiến Ukraine phụ thuộc nhiều hơn vào EU về tài chính và hỗ trợ chính trị. Thỏa thuận khai thác khoáng sản với Mỹ, dù có thể mang lại nguồn lực tài chính, cũng làm dấy lên lo ngại về việc Ukraine bị biến thành một “đối tác kinh tế” hơn là một đồng minh chiến lược. Các tối hậu thư và trừng phạt của Trump chưa đủ sức ép để buộc Nga nhượng bộ, khi Nga đang chiếm ưu thế trên chiến trường.

Tương lai của NATO trong nhiệm kỳ Trumps 2.0 sẽ ra sao với việc điều chính chính sách của Mỹ? Đó là câu hỏi không dễ có lời đáp bởi những yếu tố bất định từ tính cách của Tổng thống Trump. Nhiều nhà quan sát nhận định rằng Mỹ rút khỏi NATO là khó vì một số lý do như rào cản pháp lý và lợi ích chiến lược. Một khi quyết định rút khỏi NATO sẽ làm suy yếu vị thế toàn cầu của Mỹ, suy yếu quan hệ Mỹ và EU đặc biệt trong bối cảnh khi Nga và Trung Quốc đang thách thức trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt. Chính vì thế NATO vẫn sẽ là công cụ cần thiết để Mỹ duy trì ảnh hưởng ở châu Âu và kiềm chế Nga.

Các hành động vừa qua của Mỹ cho thấy Mỹ không rời bỏ EU, sử dụng NATO để kiềm chế Nga và các nước, nhưng khác với các đời Tổng thống trước là Mỹ vẫn giữ vai trò lãnh đạo và quyết định, còn EU – NATO phải gánh chịu chi phí và trực tiếp đối đầu với Nga.■

BÌNH LUẬN

BÀI BÌNH LUẬN KHÁC