Khi Nhật Bản đẩy mạnh quá trình giao thương tới các vùng lân cận vào thế kỷ XVII, thương thuyền Nhật Bản đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài ở nước ta. Tiểu luận về mối quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Dương thế kỷ XVI và thế kỷ XVII (Essai sur les relations du Japon et de l’Indochine aux XVIe et XVIIe) của Noël Peri xuất bản năm 1923 là một nghiên cứu tương đối chi tiết về quá trình này. Tạp chí Phương Đông lược dịch giới thiệu tới độc giả phần khảo cứu về gia tộc Suminokura – một trong những đoàn thuyền có các cuộc trao đổi thường xuyên ở Đàng Ngoài trong giai đoạn này. (Tiêu đề bài do BBT đặt).
Đầu thế kỷ XVII, tình hình chính trị Đại Việt vô cùng đặc biệt khi tồn tại hai trung tâm quyền lực: Vua Lê – Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đồng thời, dưới chính sách đối ngoại cởi mở ngay sau khi thống nhất đất nước của Mạc Phủ Tokugawa, Nhật Bản bắt đầu mở rộng ảnh hưởng ra khu vực. Hoạt động đáp ứng hiệu quả mục tiêu đó chính là việc triển khai thiết lập mối quan hệ ngoại thương với các vùng lãnh thổ lân cận. Trong bối cảnh như vậy, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thế kỷ XVII đã có những tiếp xúc đầu tiên và có điều kiện phát triển thông qua hoạt động trực tiếp của thương nhân Nhật Bản. Các hào thương Nhật Bản giữ vai trò quan trọng nhất trong quan hệ mậu dịch với Đông Nam Á phải kể đến là Suminokura, Chaya và Goto. Trong đó, thương thuyền có mối liên hệ thường xuyên nhất, chặt chẽ nhất với Đàng Ngoài chính là thuyền của Suminokura.

Suminokura là tên được đặt để gợi nhắc tới vùng ngoại ô Kyoto mà gia tộc này tới gây dựng sự nghiệp, thực tế, họ là hậu duệ của Omi Genji – một nhánh của thị tộc Minamoto. Gia tộc này có truyền thống hành nghề y, cho tới khi Ryoi Suminokura ra đời. Với lòng đam mê khám phá những điều mới mẻ, ông đã xây dựng sự nghiệp mới trong lĩnh vực ngoại thương và truyền những thành tựu cho con trai mình là Genshi Suminokura.
Các thuyền buồm thương mại Nhật Bản khi đó được gọi là những Châu Ấn thuyền, có trang bị vũ trang. Những con thuyền này mang theo châu ấn trạng – một loại giấy phép thông hành được đóng dấu đỏ, cho phép thương thuyền Nhật Bản đi giao thương, buôn bán với các nước trên thế giới, trong đó có Đại Việt. Giấy phép này được cấp từ cuối thế kỷ XVI, nhưng phải đến đầu thế kỳ XVII, thời kỳ nở rộ của châu ấn trạng mới bắt đầu. Đặc biệt, trong khoảng từ năm 1604 – 1635, chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã cấp 355 châu ấn trạng cho các thuyền đi ra nước ngoài. Riêng với gia tộc Suminokura, ngay từ năm 1592, họ đã là một trong số những người đầu tiên sở hữu các con tàu được cấp châu ấn trạng. Theo các tài liệu mà gia tộc lưu giữ, những tàu thuyền này đã nhận lệnh đi tới An Nam vào mùa thu năm 1603.
Cũng cần lưu ý rằng tên gọi An Nam xuất hiện trong các tài liệu của Nhật Bản thời kỳ này dùng để chỉ Đàng Ngoài, Đàng Trong được gọi với tên Giao Chỉ. Trong bản thảo của bức thư do ông Genshi Suminokura soạn năm 1603, ông viết: “Kính cẩn bái thư, dâng lên bậc đại nhân tôn quý đang điều hành quốc chính An Nam (danh hiệu, phẩm trật cùng quý danh của ngài hiện chưa được biết rõ)”. Vào thời điểm đó, Đàng Trong đã thường xuyên trao đổi thư từ với Nhật Bản, vì vậy, nếu bức thư này được gửi cho Đàng Trong thì việc thiếu hụt thông tin là điều khó có thể xảy ra.
Trong bức thư này, ông Genshi có đoạn viết: “Nay phụng mệnh quốc gia, sai quan coi việc thương mại tới quý quốc trình bày sự tình, kính xin quý quốc cùng bàn định trăm sự, lập chế độ công phù có ấn tín của hai nước để phân biệt thật giả, lại mong mỗi năm được sai một viên thương chính sang quý quốc để nối dài tình giao hảo”. Cuốn Đông Chiếu Cung ngự thực ký, quyển 7 có chép rằng: vào mùa thu năm 1603, Ieyasu Tokugawa lệnh cho Suminokura cử một chiếc thuyền sang An Nam để thiết lập giao thương ở đó. Như vậy, bức thư trên chắc chắn được soạn nhằm phục vụ chuyến đi này. Tuy vậy, có lẽ bức thư chưa từng được gửi đi, trên thực tế, Ieyasu đã bỏ ý tưởng về công phù và chuyển sang hình thức đơn giản hơn là cải tổ hệ thống châu ấn trạng vào năm 1604. Dù vậy, vẫn có thể khẳng định mong muốn thiết lập mối quan hệ ngoại giao chính thức giữa chính quyền Mạc Phủ Tokugawa và Đàng Ngoài đã được hình thành.
Tháng 3/1605, một thương thuyền khác của Suminokura tiếp tục cập bến Đàng Ngoài, mang kèm một bức thư. Thông qua nội dung viết trong thư, con thuyền này đã cập bến tại Vinh hoặc khu vực lân cận thành phố này. Con thuyền trở về Nhật Bản vào tháng 6/1605 và chỉ ngay trong tháng 9 cùng năm, một châu ấn trạng khác lại được cấp cho thuyền của gia tộc Suminokura. Chuyến đi tháng 9/1605 có một bức thư khác đi kèm ám chỉ những khó khăn khá nghiêm trọng nảy sinh giữa người Nhật và những người dân Đàng Ngoài. Viên thuyền trưởng đại diện phía Nhật Bản hành xử khiến người khác phải phàn nàn, cuối cùng phải chịu phạt. Mặt khác, gia tộc Suminokura đã nhờ tới Seika Fujiwara – một nhà nho lỗi lạc thời bấy giờ, viết thư tạ lỗi. Qua nội dung bức thư của Seika, có thể thấy người nhận là một viên quan có học thức, có hiểu biết văn chương và có phẩm hàm quan khá cao. Bức thư cũng khẳng định lại mong muốn duy trì mối quan hệ tốt đẹp và hai bên đã gửi tặng những lễ vật để bày tỏ thiện chí.
Năm 1605 cũng là lần đầu tiên ông Ryoi Suminokura cùng em trai mình thử thiết lập mối quan hệ ngoại giao với chính quyền Đàng Ngoài. Họ đã gửi thuyền kèm theo những lễ vật được ghi lại trong danh sách như sau:
Năm Tỵ, tháng 12
Dâng lên Kanpaku
| Từ Ian gửi:
– Mmột trăm miếng thạch anh; – Hai mươi cân hổ phách dạng miếng; – Một cân đàn hương trắng; – Một cối giã thuốc; – Một nghìn tờ giấy trắng. |
Từ Ryoi gửi:
– Một yên ngựa; – Hai cây kích; – Một bộ giáp; – Một cây cung; – Ba bó tên, mỗi bó mười hai mũi; – Năm trăm cân lưu huỳnh; – Hai viên đá mài. |
Ở Nhật Bản, Kanpaku là từ dùng để chỉ vị nhiếp chính có quyền hành đứng đầu, vì vậy, trong danh sách này, Kanpaku không ai khác chính là Trịnh Tùng – vị nhiếp chính quyền lực của Đàng Ngoài. Theo một tài liệu khác được gia tộc lưu giữ, chiếc thuyền này đã cập bến tại sông Vinh vào tháng 5/1606.
“Chúng tôi, các viên quan của hai ty Thừa và Hiến thuộc phủ Nghệ An, xin thông báo cho viên lại thuộc hai ty chúng tôi là Lê Hữu Tài và Phạm Thọ Nhượng rằng:
Chúng tôi được tin có một chiếc thuyền nước ngoài đã đến tỉnh này và neo đậu tại bến sông của làng Phúc Lễ, huyện Hưng Nguyên. Hai ông cần đến nơi chiếc thuyền nói trên đang đậu để tiến hành kiểm tra, đồng thời hỏi rõ viên thuyền trưởng xem thuyền tới từ đâu, muốn buôn bán ở đâu và yêu cầu ông ta lập rõ danh sách những người trên thuyền. Chúng tôi sẽ dựa vào lời hồi đáp để báo cáo lên quan trên.
Nay thông báo việc này.
Hoằng Định năm thứ 7, ngày 18/4 (24/5/1606)”
Như vậy, khi cập bến Đàng Ngoài, trước khi bắt đầu giao thương, những tàu thuyền đều sẽ trải qua một cuộc điều tra và thẩm định của chính quyền. Nhiều tài liệu lưu trữ của dòng họ Suminokura đưa tới thông tin rằng những tàu thuyền thuộc gia tộc này đều cập bến tại Vinh – Nghệ An. Không chỉ nỗ lực trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với chính quyền, Suminokura còn mở rộng hoạt động buôn bán với các thương nhân tại Đàng Ngoài, rồi thông qua các thương nhân này, họ lại dâng lễ vật lên chúa Trịnh.

Các tài liệu ghi chép trong quyển 12 của Ngoại phiên thông thư còn ghi nhận một vụ đắm tàu của gia tộc Suminokura ở Đàng Ngoài vào năm 1609. Vụ việc này gây náo động cả Đàng Ngoài và Nhật Bản. Lời giải thích của các quan lại gợi ra liên tưởng về nỗi lo lắng của họ đối với tác động của vụ việc tại Nhật Bản và có thể khẳng định tình cảm của Đàng Ngoài dành cho người Nhật.
Vào thế kỷ XVII, quy định dành cho người ngoại quốc ở Đàng Ngoài đã rất chặt chẽ: các thủy thủ dừng chân và các thương nhân chỉ được phép cư trú ở một địa điểm nhất định, chúa Trịnh cho cử các viên quan đến để giám sát chặt chẽ những người này và họ chỉ được đi lại khi có quan thị sát đi cùng. Những người đắm tàu không hề có nơi cư trú cố định, để tránh cho họ rơi vào tình trạng bất hợp pháp, các quan lại dẫn họ vào triều và trình bày hoàn cảnh để xin ý kiến của vị nhiếp chính. Chúa Trịnh đã giải quyết theo cách vô cùng rộng lượng. Một mặt, ông cho phép người Nhật ở lại Đàng Ngoài một thời gian, mặt khác, ông lệnh cho các viên quan Nghệ An đóng một chiếc thuyền để đưa người bị nạn trở về Nhật Bản. Tuy vậy, không có tài liệu ghi nhận việc thực hiện mệnh lệnh này, cũng như trong khoảng thời gian đó, không có tàu thuyền nào ở Nhật được cấp châu ấn trạng và đi tới Đàng Ngoài. Vì vậy, những người Nhật bị đắm tàu có thể đã theo một chiếc thuyền Trung Hoa để hồi hương và mang về bốn văn bản gồm hai bức thư của quan lại Đàng Ngoài, một bản ghi chú của tổng trấn Nghệ An và một lệnh của chúa Trịnh. Cả bốn văn bản đều được gửi lên triều đình của Ieyasu vào năm 1610.
Tại Nhật Bản, năm 1612, lệnh chống Thiên Chúa giáo được ban hành. Năm 1613, âm mưu Okubo Nagayasu[1] gây náo loạn toàn Nhật Bản. Năm 1614, Ryoi Suminokura qua đời. Năm 1615, Genshi Suminokura bận bịu với các công việc được giao trong thời kỳ diễn ra hai trận vây hãm thành Osaka. Tất cả những biến động xảy ra như vậy đã trì hoãn hoạt động gửi thuyền tới Đàng Ngoài của gia tộc Suminokura trong khoảng từ năm 1612 – 1619. Đến năm 1620, Genshi mới tái khởi động việc trang bị thuyền buôn nối lại quan hệ với Đàng Ngoài. Năm 1623, bức thư do chúa Trịnh Tráng gửi tướng quân Tokugawa báo việc mình lên ngôi cũng được giao thành hai bản, trong đó một bản gửi về bằng thuyền của gia tộc Suminokura.
Ngoài các bức thư kể trên, gia tộc Suminokura còn hiến tặng một lễ vật dâng cúng thần linh cho chùa Kiyomizu ở Kyoto để tạ ơn vì những chuyến đi biển của họ đều thuận buồm xuôi gió. Lễ vật này là bản mô tả sinh động cho hoạt động mậu dịch giữa Nhật Bản và Đàng Ngoài. Đó là một bức tranh gỗ, mô tả cách điệu một chiếc thuyền buồm với phần mũi nhô cao, phía sau có một kiến trúc nhỏ, trên boong thuyền, hành khách đứng chen chúc đông đúc. Các dòng sau đây được khắc ở nhiều vị trí khác nhau của bức tranh:
“Kính cẩn treo trước bảo điện, mọi lời nguyện cầu đều thành công, hành khách trên chiếc thuyền tới Đàng Ngoài, ngày 20/11/1634”.

Như vậy, gia tộc Suminokura đã hoạt động vô cùng tích cực trong giai đoạn từ năm 1603 – 1634, tới tận khi Tướng quân Iemitsu ra sắc lệnh Tỏa quốc năm 1635, theo đó cấm tất cả các tàu thuyền đi nước ngoài. Những cuộc tiếp xúc và các bức thư trao đổi giữa Đại Việt và Nhật Bản thế kỷ XVII khẳng định cho lịch sử giao thương đã khởi nguồn từ lâu của hai quốc gia. Đó cũng là minh chứng cho các hoạt động ngoại thương của Đại Việt trong thời kỳ này. Có thể nói rằng những hoạt động đó chính là nền tảng cơ sở cho lịch sử quan hệ ngoại giao của Nhật Bản và Việt Nam.■
Thanh Nguyệt dịch
Chú thích:
[1] Âm mưu Okubo Nagayasu: Vụ bê bối chấn động thời kỳ đầu Mạc Phủ Tokugawa, năm 1613, sau khi Okubo Nagayasu qua đời, Ieyasu Tokugawa đã tiến hành kiểm tra và phát hiện Nagayasu biển thủ của cải quốc gia để tích lũy tài sản cá nhân. Ngoài tham nhũng, ông cũng bị cáo buộc từng có ý định lật đổ quyền cai trị của Tướng quân Tokugawa.