Nhân kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ đô, 10-10-2026, tác giả giới thiệu khái quát về vùng đất thiêng Thăng Long cùng với các di tích, di vật tuyệt vời của nó nay đã được công nhận là Di sản Thế giới. Bài viết gồm 2 phần về Hoàng thành Thăng Long – Kinh đô rồng bay và Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long. Tạp chí Phương Đông xin giới thiệu tới quý bạn đọc.
Ngày 5/11/2003, trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, người dân Việt Nam quan tâm và yêu mến di sản lịch sử – văn hóa nức lòng đón nhận những đánh giá của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về giá trị to lớn của khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu (Ba Đình, Hà Nội):
“… Đã phát hiện được những di tích và hiện vật tại khu vực phía Tây Hoàng thành Thăng Long xưa cùng một số lượng lớn các hiện vật phong phú, quý giá gắn với lịch sử hơn 1.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, của Thủ đô Hà Nội, với các tầng văn hóa kế tiếp nhau, qua các thời kỳ từ thế kỷ VII tiếp nối đến thời đại Hồ Chí Minh” (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam 2004: 120).
Kể từ đó, tên gọi Hoàng thành Thăng Long ngày càng trở nên quen thuộc, nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Đó là khu di tích khơi dậy niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam, gợi mở và tiềm ẩn biết bao phát hiện và nghiên cứu kỳ thú dưới những tầng đất nghìn năm của vùng đất đế đô.
Hoàng thành Thăng Long là tên gọi được người xưa và các bộ biên niên sử Việt Nam dùng để chỉ vòng thành ở giữa trong cấu trúc ba vòng thành “tam trùng thành quách” của kinh đô Thăng Long. Đây là vòng thành bao bọc quanh các cung điện của nhà vua (Hoàng cung), bao quanh khu trung tâm chính trị, trung tâm quyền lực, đô thị quân vương của các vương triều Việt Nam; do đó được gọi là Hoàng thành, hay đầy đủ hơn là Hoàng thành Thăng Long. Bản thân những tên gọi gắn liền với tòa thành này qua các thời kỳ cũng gợi biết bao điều hấp dẫn cần khám phá: Hoàng thành Thăng Long, thành Thăng Long, Phượng Thành, Long Phượng thành, Đại Nội, Đông Đô, Đông Kinh, Bắc Thành, Hà Nội…
Quanh câu chuyện Hoàng thành Thăng Long là cả một pho sử vàng rực rỡ ánh hào quang của lịch sử Thăng Long – Hà Nội, lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử văn hóa và văn minh Việt Nam. Toàn bộ câu chuyện đó được bắt đầu từ Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, vị Vua sáng lập ra triều Lý và kinh đô Thăng Long năm 1010.
1. CHIẾU DỜI ĐÔ VÀ RỒNG BAY LÊN – VẬN NƯỚC BAY LÊN
Mùa xuân, năm 1010, sau khi lên ngôi tại kinh đô Hoa Lư, đô cũ của nhà Đinh (968 – 980), nhà Tiền Lê (980 – 1009) ở đất Trường Châu (Ninh Bình), Lý Thái Tổ đã thể hiện ý muốn dời đô trong Chiếu dời đô như sau:
“ Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua đời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu.
Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ sThương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp.
Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?” (ĐVSKTT 1998a: 241).
Sau khi ban chiếu hỏi, quần thần đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc, giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo” (ĐV SKTT 1998a: 241).
Ý Vua đã quyết, lòng dân nhất trí, mùa thu tháng 7 năm 1010, cuộc thiên đô vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và lịch sử kinh đô Rồng Bay bắt đầu. Tất cả các nguồn sử biên niên Việt Nam đều thống nhất việc ghi chép sự kiện trọng đại này.
“Việt sử lược” thời Trần (thế kỷ XIV) chép:
“Năm Canh Tuất, năm thứ 2 (1010).
Tháng giêng, cải nguyên là Thuận Thiên năm đầu.
Xưa Vua thấy thành Hoa Lư chật hẹp bèn dời đô ra thành Đại La. Lúc dời đô, đỗ thuyền ở dưới thành có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, nhân đó gọi là Thăng Long” (VSL 2005: 74 – 75).
“Đại Việt sử ký toàn thư” thời Lê chép:
“Mùa thu, tháng 7, Vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” (ĐVSKTT 1998a: 241).
“Việt sử thông giám Cương mục” thời Nguyễn chép:
“Tháng 7, mùa thu, dời kinh đô đến thành Thăng Long…
…Từ Hoa Lư dời kinh đô đến Đại La thành. Thuyền ngự đến bên thành, có con rồng hiện ra. Nhà vua sai đổi tên là thành Thăng Long” (VSTGCM 1957: 41).

Sự kiện trên đây cũng được lưu truyền rộng rãi và lâu dài trong nhân dân. “Lĩnh Nam chích quái” (thế kỷ XV) chép:
“Thành Thăng Long xưa hiệu là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lý chèo thuyền ở bến sông Nhị Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long rồi đóng đô ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy” (Vũ Quỳnh – Kiều Phú 1960: 29).
Như vậy, việc đặt tên kinh đô mới là Thăng Long gắn liền với một linh vật cao quý nhất, đẹp đẽ nhất trong huyền tích, huyền thoại Việt Nam, linh vật đứng đầu trong Tứ linh: Con Rồng. Đó là linh vật tượng trưng cho nguồn sống (nước), tượng trưng cho giống nòi Việt Nam (con Rồng cháu Tiên), tượng trưng cho sự phong đăng hòa cốc (mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt), tượng trưng quyền lực nhà vua, tượng trưng cho Thánh vương xuất hiện, thiên hạ thái bình. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà sự kiện dời đô và việc đặt tên kinh đô mới của Lý Thái Tổ đều liên quan chặt chẽ đến Con Rồng huyền thoại.
2. ĐẤT LONG ĐỖ: TRUNG TÂM THIÊNG CỦA ĐẤT NƯỚC
Từ xa xưa, sử sách và huyền thoại Việt Nam nói chung đều gọi vùng đất trung tâm Hà Nội ngày xưa là đất Long Đỗ. Theo “Việt điện u linh” (thế kỷ XIV thời Trần), từ khoảng đầu công nguyên, khu vực này thuộc vùng đất có tên là Long Đỗ (Lý Tế Xuyên 1972: 59). Biên niên sử thời Trần cũng xác định đất Thăng Long là đất Long Đỗ (ĐVSKTT 1998b: 191).
Sở dĩ gọi là Long Đỗ vì chính giữa đất ấy có núi Long Đỗ (núi Nùng). “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn viết: “Núi Nùng ở trong tỉnh thành, có tên nữa là núi Long Đỗ” (Đại Nam nhất thống chí 2006: 206).
Sở dĩ đặt tên núi là Long Đỗ vì trên núi có Long Đỗ (Rốn Rồng).
“Thượng Kinh phong vật chí” viết: Thượng kinh (tức kinh đô Thăng Long) có “núi Nùng ở giữa, trên núi có một chỗ lõm xuống, tức nơi thông hơi của núi Chằm nên gọi chỗ ấy là Rốn Rồng (Long Đỗ)” (Trần Văn Giáp 1971: 31).
Theo quan niệm của Dịch lý và phong thủy phương Đông thì Núi Nùng với Rốn Rồng (Long Đỗ) là huyệt điểm “tàng phong tụ khí” tối quan trọng, tạo nên thế đất tốt cho con người sinh sống và phát triển. Bia “Bạch Mã thần từ bi ký” năm Chính Hòa thứ 8 (1688) cho biết: “Ngọn núi này là nơi hội tụ khí thiêng” (Nguyễn Thị Hoà 2003:190). Ở tầm quốc gia, huyệt điểm này có mạch thông với gò núi, sông đầm, trời đất, mạch đất xuất phát từ núi Tản Viên vượt qua sông Hát đến núi Nùng thì dừng lại (Đồng Khánh địa dư chí 2003: 5). Huyệt điểm Rốn Rồng (Long Đỗ) mặc nhiên cho thấy toàn bộ vùng đất trung tâm nội thành Hà Nội có thế đất hình Con Rồng. Bởi thế, quanh câu chuyện Long Đỗ còn có các truyền tích khác liên quan tới con rồng như: Nùng Sơn còn được xem là Long Tị (Mũi Rồng); hai quả núi thuộc Tam Sơn ở phía Bắc được xem là râu Rồng; chùa Một Cột ở phía Tây Cấm thành Thăng Long được xem là nơi lưng rồng đi qua. Tuy nhiên, tập trung nhất, nổi tiếng nhất vẫn là truyền tích về đất Long Đỗ và thần Long Đỗ. Thần Long Đỗ là vị thần đứng đầu miền đất Long Đỗ xưa được huyền thoại, huyền tích Hà Nội cổ coi là thần Tô Lịch, thần sông Tô Lịch (Tô Lịch giang thần), Long Đỗ chính khí thần (thần chính khí đất Long Đỗ), Long Đỗ vượng khí quân (Vua vượng khí đất Long Đỗ) thường hiển linh cùng rồng vàng hoặc rồng đỏ giáng phúc trừ tai cho dân chúng khắp vùng, biểu trưng cho tinh thần bất khuất chống đô hộ phương Bắc (phá tan bùa yểm của Đô hộ kiêm phù thủy Cao Biền). Thần Long Đỗ được các vua Lý phong là Quốc đô Thăng Long thành hoàng đại vương. Thời Trần phong là Bảo quốc hiển linh định bang, quốc đô Thăng Long thành hoàng Đại vương (Lý Tế Xuyên 1972: 59-61, 85-87; Vũ Quỳnh – Kiều Phú 1960: 69-71, 107-109).
Thần Long Đỗ được lập đền thờ trên đỉnh núi Nùng. Thần Long Đỗ cũng được thờ ở đền Bạch Mã (Hàng Buồm, Hoàn Kiếm). Bia Trùng tu Bạch Mã bi ký năm Minh Mạng thứ nhất (1820) khẳng định: “Đây là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long”; “Trong các vị thần thiêng ở Long Thành, Bạch Mã đại vương linh thiêng nhất” (Ban Hán Nôm 1978a:47).
Đất Long Đỗ đã thiêng lại đẹp. Càng thiêng hơn, đẹp hơn khi đất Long Đỗ được khuôn lại trong một không gian trung tâm thiêng liêng nhất theo truyền thống phong thuỷ phương Đông. Không gian thiêng đó được nói rõ trong Chiếu dời đô.
Chiếu dời đô nói: đất Thăng Long “ở giữa khu vực trời đất”. Đất ở chính giữa khu vực trời đất là miền đất được xem như Thiên đế ban cho Hoàng đế nơi hạ giới. Điểm chính giữa của miền đất đó chính là núi Long Đỗ (núi Nùng). Trên núi Long Đỗ, Hoàng đế các vương triều xây dựng chính điện thiết triều nhằm tạo nên sự kết nối Trời (Thiên) – Đất (địa) – Người (Nhân) thành một chỉnh thể thống nhất làm cho vạn vật giao hòa, tồn tại và phát triển. Chính điện trên núi Nùng cũng khẳng định tính hợp pháp và quyền lực của Hoàng đế, đồng thời cho phép Hoàng đế đưa ra các quyết sách đúng đắn nhất bảo đảm cho đất nước trường tồn, phồn thịnh.
Chiếu dời đô cũng nói, đất Thăng Long “được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa đông tây nam bắc”. Rồng cuộn tức là Thanh Long trấn ở phía Tây, hổ ngồi tức là Bạch Hổ trấn ở phía Bắc. Đó là Chiếu dời đô nói tới không gian thiêng của đất Long Đỗ được bao quanh bởi Thanh Long (Đông), Bạch Hổ (Tây), Huyền Vũ (Bắc), Chu Tước (Nam).
Thanh Long chính là sông Hồng, Bạch Hổ chính là núi Tản Viên. Điều này được nói rõ trong bia “Chiêu Thiền tự bi ký” năm Thịnh Đức thứ 4 (1656) ở chùa Láng (Hà Nội):
“Khí tốt Phượng Thành (thành Thăng Long – Các Tg) bên hữu toả khắp, dòng sông Tô Lịch bên tả lượn vòng. Nhị Hà nghìn dặm quanh kinh đô uốn khúc như Thanh Long lớp lớp chầu về, Tản Viên dãy núi đầy khí đẹp hướng vào như Bạch Hổ đàn đàn đến họp” (Ban Hán Nôm 1978a : 102).
Trước đó, thời Lê sơ, năm 1508, Nguyễn Giản Thanh trong bài “Phượng Thành xuân sắc phú” cũng viết:
Đỉnh Tản Sơn hùm chiếm Tây Nam
Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc
(Trần Quốc Vượng 2005: 58 – 59).
Trước nữa, Nguyễn Nhữ Thuyết (thế kỷ XIV) cũng dùng hình ảnh “núi Tản Viên, sông Lô Nhị” để nói thế đất Thăng Long có Thanh Long, Bạch Hổ chầu là thế đất tốt (ĐVSKTT 1998b: 191).
Cuối cùng, Chiếu dời đô khẳng định đất Thăng Long “tiện nghi núi sông sau trước”. Sông sau là sông Hồng, núi trước là núi Đội và núi Điệp (Hà Nam) làm hai tầng làm Án chắn phía trước. Đồng thời, cả một vùng đất bằng Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Liêm, Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng là khu vực thấp trũng, chứa nước nhiều là Minh đường (Đồng Khánh địa dư chí 2003: 5; Thượng Kinh phong vật chí, theo Trần Văn Giáp 1971: 31).
Đó chính là thế đất và không gian thiêng của vùng đất có ý nghĩa hưng vượng đối với toàn bộ đất nước.
Ở phạm vi hẹp hơn, không gian thiêng của Hoàng thành Thăng Long còn có Tứ trấn bao quanh: Bắc là quán Trấn Vũ, Nam là đình Kim Liên, Đông là đền Bạch Mã, Tây là đền Voi Phục. Như thế, phía Đông, đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ cũng chính là Thanh Long của Hoàng thành.

Ở mức độ hẹp hơn nữa, bao quanh Cấm thành tiếp tục có hướng phong thủy phương hướng thiêng với các cửa mang tên: Chu Tước, Bạch Hổ, Huyền Vũ đều là các tên chỉ phương hướng thiêng của thuật phong thủy.
Như vậy, có thể nói vùng đất Long Đỗ được bao quanh bởi một không gian thiêng có nhiều tầng lớp khác nhau. Trong không gian thiêng đó, thần Long Đỗ nổi bật lên “là vị thần chủ tể một khu vực ngàn dặm, được tất cả các đời vua cúng tế” (Ban Hán Nôm 1978a: 47).
Nhưng, từ trước khi Lý Thái Tổ định đô, đất Long Đỗ đã trải qua một quá trình biến đổi địa chất có tuổi hàng chục triệu năm trở về trước. Thuở “tạo thiên lập địa” dài lâu ấy địa lý học lịch sử cho biết: khu vực Hà Nội khi đó còn là một vịnh biển sâu hàng trăm mét.
Khoảng hơn một triệu năm trước, bước sang kỷ Đệ Tứ (hay kỷ Nhân Sinh), kỷ bắt đầu có con người sinh sống trên trái đất, Hà Nội nói riêng, cả vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung vẫn tiếp tục chịu tác động mạnh mẽ của các quá trình biển tiến, biển lùi, khi thì biển tiến chiếm ưu thế, khi thì đất liền chiếm ưu thế.
Khoáng 20.000 – 18.000 năm cách ngày nay, biển lùi ra xa nhất, mực nước biển ở độ sâu từ – 90m đến -130m, khu vực Hà Nội và vùng vịnh Bắc Bộ trở thành vùng đồng bằng ven biển hết sức lớn rộng.
Khoảng 18.000 – 6.000 năm cách ngày nay, nước biển lại bắt đầu tăng dần lên. Cho đến khoảng 6000 – 5000 năm cách ngày nay, toàn bộ Hà Nội ngập chìm trong biển tiến Flandrian.
Khoảng 5000 – 4000 năm cách ngày nay, biển lại lùi dần, hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình với lượng phù sa khổng lồ bồi tích lên đồng bằng châu thổ trong đó có khu vực Hà Nội. Cửa sông Hà Nội cổ cạn dần tạo nên một cảnh trí thiên nhiên hoang sơ, đẹp đẽ.
Khoảng 2500 – 2000 năm cách ngày nay, vùng đất Hà Nội ít chịu tác động của biển cả và có hình dạng cơ bản như ngày nay. Đó là một vùng đất khá rộng rãi, bằng phẳng cao ráo (xấp xỉ 6-9m so với mực nước biển), thỉnh thoảng xen lẫn doi đất cao như địa diểm Đàn Xã Tắc (cao 6 -7m so với mực nước biển), đầm hồ chi chít như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Văn Chương, hồ Trúc Bạch, hồ Chu Tước, hồ Voi, hồ Hải Trì, hồ Bảy Mẫu, hồ Bích Câu… Tất cả nằm trọn trong 3 con sông mà ca dao cổ đất kinh kỳ khái quát:
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Đó là những con sông lịch sử – kinh tế – văn hóa, đường giao thông thuận lợi nối liền Hà Nội với cả nước và thế giới bên ngoài.
Tại các tầng đất ở khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long ở địa điểm 18 Hoàng Diệu, địa điểm Đàn Xã Tắc, nhà địa chất đã thấy rõ những lớp phù sa sông màu mỡ phủ dày lên các lớp đất được hình thành từ thời kỳ biển tiến (Đinh Văn Thuận 2009). Trên lớp đất phù sa này, người Việt cổ dần dần khai phá, định cư tạo nên một vùng đất phong vật vô cùng tươi tốt. Nói theo “Thượng Kinh phong vật chí”: “Non nước có tình đâu bằng Thượng Kinh, phong vật phồn thịnh cũng không đâu hơn Thượng Kinh” (theo Trần Văn Giáp 1971: 31). Vậy nên, sau sự kiện định đô năm 1010 của Lý Thái Tổ, đất Thăng Long được các bậc vua chúa đời sau nối tiếp định đô. Thế đất căn bản của Long Đỗ/Thăng Long, đời nào cũng khẳng định.
Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết thời Trần (thế kỷ XIV) nói: “Đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị, núi cao, sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ” (ĐVSKTT 1998b: 191).
Năm 1476 Vua Lê Thánh Tông nói: “Thượng Kinh là đất căn bản” (ĐVSKTT 1998b: 467).
Năm 1749, chúa Trịnh Doanh, người đang nắm quyền điều hành đất nước nói: “Kinh sư là căn bản quốc gia, tông miếu xã tắc và trăm quan ở cả đấy “(ĐV SK Tục biên 1991: 217).
Bia “Trùng tu hưng công bi ký” năm Gia Long thứ 76 (1808) do Thích An hầu Phạm Quý Thích đỗ tiến sĩ thời Lê khoa Kỷ Hợi (1779) ở chùa Thanh Ninh (2 Lê Trực, quận Ba Đình) viết:
“Thành Thăng Long là kinh đô cổ của các triều từ xưa tới nay. Sơn minh nhân vật hào hoa, hàng nghìn năm nay là nơi đô hội lớn của nước ta, dẫu chả phải Tào Khê Hưng Thủy thể cũng là chùa chiền Đâu Suất” (Nguyễn Anh Thư 2002: 39).
Tổng thể vị trí đất, Long Đỗ/ Thăng Long được Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780) khái quát:
Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng ở đấy, núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng trăm họ giàu có, phía Tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng; phía Bắc thấu đến Ninh Sóc Kinh Bắc. Miền Đông Nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên lạc bằng trạm, là nơi trung tâm của nước, bốn phương chầu về, núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thế làm cho nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền. Hình thế nước Việt thật không nơi nào hơn được nơi này (Ngô Thì Sĩ 1997: 194).
Tổng thể thế đất Long Đỗ/ Thăng Long mang hình dáng Con Rồng. Khi vua Lý từ Hoa Lư ra Đại La, Rồng Vàng hiện lên đón chào. Vua Lý đặt tên kinh đô là Thăng Long (Rồng Bay). Rồng Bay lên là Rồng Mây gặp hội dấu hiệu vận hội thịnh trị của đất nước. Với tất cả các biểu trưng cao quý của Rồng vàng, Hoàng thành Thăng Long – Kinh đô Rồng Bay ra đời là sự kiện vĩ đại mở màn cho một thời đại mới: thời đại phục hưng và phát triển rực rỡ nhất của dân tộc Việt Nam bắt đầu.■
PGS.TS. Tống Trung Tín
Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ban Hán Nôm 1978. Tuyển tập văn bia Hà Nội, tập II, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội
2. Ðại Việt sử ký toàn thư 1998a. tập I, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Ðại Việt sử ký tục biên (1676 – 1789) 1991. Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Đồng Khánh địa dư chí 2003.Thế giới, Hà Nội.
5. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2004. “Hoàng thành Thăng Long – Phát hiện khảo cổ học”, trong Ðặc san Xưa và Nay, Hà Nội.
6. Lý Tế Xuyên 1972. Việt điện u linh, Nxb. Văn họa, Hà Nội.
7. Trần Văn Giáp 1971. Lược khảo sách “Thượng kinh phong vật chí” mạo đề là của Lê Quý Ðôn (1726 – 1784). Trong Nghiên cứu lịch sử số 139: 30 – 37.
8. Việt sử lược 2005 (bản dịch của Trần Quốc Vượng), Nxb. Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Ðông Tây, Hà Nội.
9. Việt sử thông giám cương mục 1957, 1958, 1959 (tập IX, X, XI, XII, XIII, XV), Nxb Văn – Sử – Ðịa, Hà Nội.
10. Vũ Quỳnh, Kiều Phú 1960. Lĩnh Nam chích quái, Nxb.Văn học, Hà Nội.