
Giữa vòng xoáy của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đông Dương trở thành điểm giao tranh ngầm giữa tham vọng của các cường quốc và nỗ lực duy trì ảnh hưởng của Pháp. Trong khi quân Nhật siết chặt kiểm soát, Mỹ bắt đầu bộc lộ rõ thái độ của mình, thậm chí tính đến phương án “ủy trị quốc tế” ở Đông Dương. Từ Algiers, Tướng De Gaulle tìm cách khôi phục vai trò nước Pháp bằng mạng lưới tình báo và lực lượng kháng chiến.
Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tạo bước ngoặt khiến bộ máy thực dân Pháp ở Đông Dương sụp đổ; không lâu sau đó, Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Trong khoảng trống quyền lực ấy, phong trào Việt Minh nhanh chóng nắm lấy thời cơ, dẫn dắt nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám và tiếp đó là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào ngày 2/9/1945. Tạp chí Phương Đông trích dịch chương VI, phần I quyển “Histoire du Vietnam de 1940 à 1952” của nhà sử học Philippe Devillers phân tích tình hình những ngày tháng cuối cùng của chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta.
*
Một lựa chọn lớn được đặt ra với Pháp: hoặc là giữ nguyên trạng, bảo tồn toàn bộ bộ máy hành chính và quân sự của Pháp ở Đông Dương đến tận khi Nhật Bản sụp đổ, và nhờ đó, với sự hỗ trợ từ chính quốc, có thể đối phó với chủ nghĩa dân tộc An Nam mà không bị cuốn trôi; hoặc là tham gia ngay vào cuộc chiến để “chuộc lỗi” và nhờ đó bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Đông Dương. Giữa hai lựa chọn ấy, Paris và Calcutta không hề do dự.
Xét trong bối cảnh lập trường của Mỹ, phản ứng đó là đúng đắn. Nhưng vấn đề lớn nhất là chọn đúng thời điểm. Nếu hành động quá sớm và quá vội, liệu nguy cơ đẩy Đông Dương vào một cuộc phiêu lưu đẫm máu vô ích có xuất hiện? Hoặc, với những chuẩn bị quá lộ liễu, người Nhật sẽ nghi ngờ và đánh đòn phủ đầu, phá hỏng tất cả kế hoạch và đưa mọi thứ trở lại con số không? Ở Calcutta, một số người đã ý thức được nguy cơ đó. Nhưng tại chính Đông Dương lúc ấy, nơi tinh thần tự tin và lòng nôn nóng hành động đang lấn át, người ta lại “đẩy bánh xe tiến nhanh hơn”.
Từ tháng 10/1944, Sư đoàn Hành động Pháp đã mở rộng mạnh mẽ. Các cuộc thả dù của Không quân Hoàng gia Anh gồm đặc vụ, vũ khí và trang thiết bị xuống các điểm tiếp nhận ở Lào, vùng núi cao Bắc Kỳ, Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ ngày càng thường xuyên. Sau nhiều nỗ lực, nhóm tình báo của Gordon, Bocquet… đã chấp nhận gia nhập tổ chức của Pháp Tự Do và không liên lạc trực tiếp nữa, dù họ không hài lòng với phương pháp quân sự và đặc biệt là sự thiếu kín đáo của tổ chức Mordant. Việc liên lạc vô tuyến diễn ra ngày càng nhiều và cải thiện hơn nhưng lại không giữ được bí mật. Trong thành phố, tại các câu lạc bộ, người ta bàn tán quá nhiều về kháng chiến, về Lực lượng Nội địa Pháp, súng tiểu liên, lính nhảy dù… Ở Sài Gòn, hầu như người Pháp nào cũng biết vai trò của Tướng Mordant trong phong trào kháng chiến. Một vài sai sót trong thả dù đã khiến quân Nhật chú ý, và họ còn có nhiều người dân bản xứ chỉ điểm giúp phát hiện ra nhiều manh mối.
Rồi chính quân đội lại phạm phải những bước liều lĩnh. Tướng Mordant đã vạch ra một “kế hoạch tác chiến” trong trường hợp người Nhật tấn công. Cốt lõi của kế hoạch này là đa phần quân đội Pháp rút khỏi những thành phố lớn, dồn lực lượng về các vùng núi ở Bắc Kỳ và Lào, từ đó tiến hành chiến tranh du kích. Nói cách khác, ông đã chấp nhận trước việc để mặc toàn bộ miền Trung rơi vào tay Nhật. Sau vài điều chỉnh nhỏ, kế hoạch này được Paris phê chuẩn vào cuối tháng 1/1945.
Mệnh lệnh được ban hành để triển khai lực lượng theo đúng kế hoạch. Ở Bắc Kỳ, Bộ Tham mưu cho rút quân khỏi khu vực phía đông, để tập trung vào vùng ngã ba sông Lô và sông Đà. Ở miền Nam, chỉ huy Sư đoàn Nam Kỳ – Lào, Tướng Delsuc điều các đơn vị đồn trú ở Sài Gòn ra vùng ven ngoại ô. Việc xây dựng các công sự và công trình phòng thủ cũng bắt đầu, bề ngoài là để chống lại một cuộc đổ bộ có thể xảy ra của đồng minh, nhưng thực chất gần như công khai nhằm chống lại bố trí lực lượng quân Nhật. Ngoài ra, các chương trình phát thanh tiếng Pháp của đài New Delhi và Trùng Khánh càng củng cố trong tâm trí người Pháp ở Đông Dương hy vọng một cuộc đổ bộ của Mỹ ở bờ biển miền Trung An Nam sắp diễn ra và đó là tín hiệu để đánh bại quân Nhật.
Sau khi nhận được thông tin từ các nhóm kháng chiến, Calcutta bắt đầu lo ngại trước tinh thần nóng vội của lãnh đạo quân đội và Sư đoàn Hành động. Quân Pháp tại Hà Nội được cảnh báo đừng hành động vội vàng mà kích động một đòn trả đũa chớp nhoáng từ quân Nhật. Trong vài tháng tới, không thể trông đợi sự hỗ trợ từ bên ngoài nên cần thận trọng, tập trung xây dựng lực lượng và thu hút các tầng lớp người bản địa tiến bộ vào phong trào.
Nhưng lúc này đã quá muộn để kìm lại. Một cách hoàn toàn bí mật, thế chủ động đã chuyển sang phía Nhật. Họ biết rõ những gì đang được chuẩn bị. Hiến binh Nhật có gián điệp ngay cả trong Bộ Tham mưu Pháp, dễ dàng theo dõi những qua lại đáng ngờ của Tướng Mordant và nghe được các cuộc trò chuyện thiếu kín đáo của dân thường Pháp. Các cuộc điều quân, hoạt động không quân sôi động trở lại, và cả việc thả dù cũng không qua được mắt họ.
Bộ Tham mưu Nhật đánh giá rằng việc Pháp thay đổi thái độ ở Đông Dương đe dọa nghiêm trọng vị thế của họ, vốn đã lung lay vì các cuộc ném bom và đánh chìm tàu. Trong trường hợp Mỹ đổ bộ, Nhật sẽ phải đối mặt với cả quân đổ bộ và cả quân đội Pháp, và có thể phần lớn dân Pháp và dân An Nam sẽ ủng hộ lực lượng này. Điều này khiến quân Nhật từ vài tháng trước đó đã khuyến khích hoạt động của các nhóm quốc gia chủ nghĩa thân Nhật, đẩy mạnh công tác vận động trong dân bản địa, nhất là ở vùng núi. Quân Nhật cũng khó chịu vì chính quyền Pháp ngày càng kháng cự yêu cầu tài chính của họ. Cùng với việc tăng quân, Nhật muốn tăng gấp bốn lần số tiền do chính quyền Đông Dương cấp.
Cuối cùng Bộ Tham mưu Đông Nam Á của Nhật kết luận rằng chỉ một chế độ chiếm đóng quân sự mới đủ để kiểm soát cuộc khủng hoảng. Họ thuyết phục được Tổng Hành dinh Hoàng gia và chính phủ Tokyo, để cuối tháng 2/1945 được phép hành động. Dù vậy, giới ngoại giao Nhật vẫn cố can thiệp để giảm bớt mức độ cứng rắn của các biện pháp quân sự, vì họ muốn giữ một kênh liên lạc với phương Tây qua Pháp khi tình hình chiến tranh đang xấu đi. Dẫu vậy, quyết định quân sự cuối cùng vẫn là chỉ dùng vũ lực trong trường hợp bất khả kháng, trước hết phải cố tước bỏ vai trò của quân đội Đông Dương, chẳng hạn bằng cách buộc tiến hành việc giải giáp. Nhưng tối 9/3/1945, Đại sứ Nhật Matsumoto đến gặp toàn quyền Decoux tại Dinh Sài Gòn, trao tối hậu thư, toàn bộ lực lượng vũ trang Pháp ở Đông Dương phải lập tức đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của Nhật. Quân Nhật coi câu trả lời mang tính câu giờ của Decoux là lời từ chối.
Trong đêm đó, trên toàn Đông Dương, vốn đã chuẩn bị kỹ lưỡng, quân đội Nhật Bản đồng loạt ra tay tấn công. Ở Sài Gòn và toàn bộ Nam Kỳ, quân Pháp gần như bất ngờ hoàn toàn và Nhật Bản đã kiểm soát được tình hình rất nhanh chóng. Ở Huế và Hà Nội, quân Pháp đã kịp thời nhận được tin báo, sau nhiều giờ kháng cự không ngừng, bị áp đảo bởi lực lượng quá đông và chịu tổn thất nặng nề, họ mới buộc phải ngừng chiến đấu. Quân Nhật sau đó còn thực hiện một lễ quân sự trang trọng ở Hà Nội để bày tỏ sự kính trọng. Nhưng tại các địa điểm khác, chẳng hạn như ở Lạng Sơn, người Nhật chỉ thắng nhờ những hành động phản bội đê tiện, và khi đã chiếm được vùng đó, họ còn gây ra những vụ thảm sát kinh hoàng. Chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ, phần lớn quân đội Pháp ở Đông Dương đã bị tiêu diệt. Các chỉ huy cao nhất, Tướng Mordant và Aymé đều bị bắt làm tù binh. Chỉ còn một vài đơn vị nhỏ ở miền Trung và miền Nam vừa chiến đấu vừa bị quân Nhật truy đuổi, kịp rút lui vào rừng để tìm đường rút về các căn cứ ở Lào. Ở miền Bắc, chỉ có vài nghìn lính của cụm Sơn Tây, do các tướng Sabattier và Alessandri chỉ huy, là có thể rút lui về vùng thượng du, rồi sang Trung Quốc, sau một cuộc thoái quân rất gian nan.
*
Cú đánh bất ngờ khiến quần chúng người An Nam dường như choáng váng, sững sờ. Với đa số người Pháp ở Đông Dương và gần như toàn bộ người Việt, cuộc đảo chính của quân Nhật là cú sốc hoàn toàn bất ngờ. Và khi bình minh ngày 10/3 ló rạng, Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Hải Phòng và Đà Nẵng thức dậy trong một bầu không khí kỳ lạ, gần như phi thực. Chỉ một đêm thôi mà việc một nước Việt Nam mới xuất hiện thay thế nước An Nam cũ đã thành hiện thực.
Người Nhật, chí ít là giới ngoại giao và quân đội, không muốn làm tình hình xấu đi quá nhanh. Quan điểm của Bộ Tổng Tham mưu Nhật Bản khá đơn giản: giữ nguyên trật tự hiện tại càng lâu càng tốt để không làm tình hình quân sự trở nên phức tạp. Vì dân sự Nhật ở Đông Dương quá ít, không thể tự quản lý cả nước, nên Bộ Tổng Tham mưu sẵn sàng để tất cả công chức Pháp thuộc bộ máy kỹ thuật và hành chính tiếp tục làm việc (có thông báo chính thức), miễn là họ vẫn duy trì các dịch vụ công cộng (nước, điện, đê điều, đường sắt, địa chính…). Tuy nhiên, vì cần thiết phải có sự hợp tác của chính quyền bản địa, nên nếu người Đông Dương muốn thành lập chính phủ của riêng họ thì chính quyền Nhật quyết định không phản đối, với điều kiện không làm đảo lộn trật tự hành chính và kinh tế, cũng như không đe dọa tới an toàn của quân Nhật.
Sáng kiến thật sự lại đến từ phía khác: Hiến binh Nhật và đồng minh của họ cuối cùng có được cơ hội hành động mà họ đã chờ từ lâu. Mọi chuyện khởi sự từ Huế. Cũng trong tối ngày 9/3/1945, hoàng đế Bảo Đại về cung sau một chuyến đi săn. Đến rạng sáng ông mới về đến điện nhưng đã có một sĩ quan Nhật nói với ông rằng “Việt Nam đã độc lập và cần tuyên bố điều đó”. Đồng thời, Hiến binh Nhật nhanh chóng báo cho Phạm Quỳnh và các Thượng thư biết họ cần làm gì. Buổi tối hôm đó, Đại sứ Nhật Bản tại Huế, ông Yokoyama đến điện Kiến Trung, diện kiến Hoàng đế Bảo Đại và tâu xin Hoàng đế “vui lòng cộng tác với Nhật Bản ngay từ bây giờ” để xây dựng Đại Á. Bảo Đại và Phạm Quỳnh tỏ ra hiểu và đồng thuận với tình hình mới.
Hoàng đế gửi lời chúc mừng cho chiến thắng quân sự của Nhật Bản rồi tuyên bố rằng do hành động đêm qua của quân Nhật, Việt Nam đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc từ phía ngoại bang. Do đó, Hoàng đế Bảo Đại sẵn sàng hợp tác với Nhật để củng cố nền độc lập này. Ngay trong đêm, Hội đồng Cơ mật nhất trí rằng không thể chống lại sức ép của Nhật nếu không muốn kéo Việt Nam vào rủi ro lớn và để người Nhật trực tiếp nắm quyền. Họ đưa ra kết luận và đến ngày 11/3/1945, Hoàng đế ban chiếu chỉ, toàn thể Cơ mật viện cùng ký, chính thức tuyên bố kết quả thành công của Nhật Bản.
“Xét tình hình thế giới, đặc biệt là châu Á, triều đình Việt Nam công khai tuyên bố: Kể từ ngày hôm nay, Hiệp ước bảo hộ với Pháp bị bãi bỏ, và đất nước giành lại quyền độc lập. Việt Nam sẽ tự nỗ lực phát triển để xứng đáng là một quốc gia độc lập, và sẽ đi theo đường lối của Tuyên ngôn chung Đại Đông Á, coi mình là một phần của Đại Đông Á để góp nguồn lực cho sự thịnh vượng chung. Do đó, triều đình Việt Nam tin tưởng vào sự trung thành của Nhật Bản và quyết tâm hợp tác với Nhật để đạt được mục tiêu nói trên.
Khâm thử.
Bảo Đại.
Huế, ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 (tức 11/3/1945)
Toàn thể Cơ mật viện đồng ký:
Bộ Lại: Phạm Quỳnh
Bộ Hộ: Hồ Đắc Khải
Bộ Công: Ưng Úy
Bộ Hình: Bùi Bằng Đoàn
Bộ Quốc gia Giáo dục: Trần Thanh Đạt
Bộ Kinh tế: Trương Như Đính”
Hiến binh Nhật không chỉ giới hạn hoạt động của mình ở Huế. Ngay từ ngày 12/3, ở Hà Nội, các nhật báo tiếng Việt đã bắt đầu xuất bản trở lại. Những người thuộc lực lượng Hiến binh Nhật đã chi phối ban biên tập của các tờ báo này và các bài viết với giọng điệu công kích nước Pháp gay gắt ngay lập tức nổi lên. Chỉ vài ngày sau đó, Sài Gòn, Huế và các thành phố khác cũng có hiện tượng tương tự.
Ngay lập tức, hiệu ứng của hành động này xuất hiện. Tất cả những người từ lâu đã đặt cược vào lá bài Nhật Bản, những người do không hiểu hết bối cảnh quốc tế, tin tưởng vào sự kiện “giải phóng của quân Nhật”, và cả những người nghĩ rằng đây là lúc để thẳng thắn bày tỏ những gì đã chất chứa bấy lâu, đều đổ xô, nhiệt tình tham gia vào làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Ngày 16/3, theo lời kêu gọi của Trần Quang Vinh, tổ chức Phục Quốc (vừa công khai hoạt động) cùng các giáo phái Cao Đài, và theo lời Giáo sư Hồ Văn Ngà – Chủ tịch Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng, người dân Sài Gòn xuống đường biểu tình đông đảo “để bày tỏ lòng biết ơn của quốc dân đối với quân đội Nhật đã giải phóng chúng ta khỏi kẻ thù Pháp”. Tuy nhiên, lo sợ có thể xảy ra bạo loạn, vào phút chót, người Nhật đã cấm tổ chức cuộc biểu tình này. Ngày 21/3, trên đài phát thanh Radio – Shonan (ở Singapore), Trần Văn Ân, tự xưng là Đại diện tối cao của tổ chức Phục Quốc ở Đông Nam Á, đã lên tiếng bày tỏ sự hài lòng khi thấy “bọn cướp biển và sát nhân Pháp đã bị đánh gục mãi mãi”. Tại miền Trung và miền Bắc, đảng Đại Việt Quốc xã cũng bắt đầu tổ chức lại lực lượng. Báo chí và công tác tuyên truyền, dưới sự kiểm soát của người Nhật, phát động một chiến dịch cực kỳ dữ dội chống lại chế độ bảo hộ, nhấn mạnh về “việc can thiệp liên tục” của người Pháp vào công việc của người Việt Nam, “giam cầm những người yêu nước”, “bóc lột kinh tế” và cuối cùng, đặc biệt là nạn tham nhũng của tầng lớp quan lại, chính là công cụ chủ yếu của ách thống trị Pháp.
Sự khai thác chủ nghĩa dân tộc này đã khiến việc duy trì quyền lực của những nhóm từng là công cụ của chế độ bảo hộ trở nên khó khăn. Như vậy, vấn đề về chính phủ ở Huế lập tức được đặt ra. Phải chăng cuối cùng đã đến thời của Cường Để? Nhưng thay vì chọn ứng cử viên lâu nay của họ, biểu tượng của “chủ nghĩa dân tộc chính thống”, các tướng lĩnh và nhà ngoại giao Nhật Bản lại ưu tiên chọn vị vua dễ bảo, mà hành động của ông chắc chắn không gây ra xáo trộn hay làm thay đổi trạng thái cân bằng mong manh. Chỉ có các Thượng thư, đặc biệt là Phạm Quỳnh – người vốn rất không được lòng dân, là “hy sinh” trước sức ép của phong trào dân tộc chủ nghĩa. Ngày 19/3/1945, theo yêu cầu chính thức của Bảo Đại, người tuyên bố tự mình đảm đương trọng trách cầm quyền, toàn bộ nội các đã từ chức tập thể.
Việc thành lập một chính phủ mới trở nên khó khăn. Các cuộc tham khảo của Bảo Đại để chọn ra người mới diễn ra lâu và đầy trắc trở. Hầu hết các ý kiến đều nhất trí cho rằng Ngô Đình Diệm, cựu Thượng thư trẻ tuổi nổi danh với xu hướng cải cách từ năm 1933 là người xứng đáng nhất để nhận chức Thủ tướng. Nhưng Diệm vốn có thái độ chống đối Bảo Đại và dường như ủng hộ Cường Để, đã không hồi đáp hai thông điệp do quân đội Nhật chuyển đến. Hơn một tháng trôi qua và dân chúng bắt đầu sốt ruột.
Cuối cùng, ngày 17/4/1945, Bảo Đại giao nhiệm vụ thành lập chính phủ cho Giáo sư Trần Trọng Kim, người nổi tiếng với tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và đóng góp vào việc phục hưng tiếng Việt, đang bị cơ quan an ninh của Đô đốc Decoux để mắt tới nên đã chạy sang Bangkok và Singapore nhờ người Nhật giúp đỡ.
Chính phủ do ông thành lập nhận được sự đánh giá đồng thuận là gồm những nhân vật có giá trị, gần như toàn bộ thuộc thế hệ trẻ được giáo dục theo kiểu Pháp. Xét về mặt tình cảm, những người này hoàn toàn không thù ghét nước Pháp, nhưng cũng là những người yêu nước nhiệt thành. Ngay từ khi nhậm chức, Hoàng đế đã cảnh báo rằng họ đang lập ra một chính phủ “định sẵn để hy sinh” bởi gần như chắc chắn là quân Nhật thất bại. Chính phủ này trước hết và trên hết nhằm tránh việc người Nhật trực tiếp cai trị đất nước. Nhưng cũng chính vì lý do đó, họ càng nóng lòng hành động. Họ cảm thấy chiến thắng của phe Đồng Minh không còn xa, và điều đó sẽ tạo cơ hội để đánh thức và khuấy động tinh thần dân tộc, truyền vào nhân dân ngọn lửa độc lập, đồng thời củng cố quốc gia Việt Nam bằng cách nắm lấy những đòn bẩy về hành chính, quân sự, kinh tế và thực hiện thống nhất dân tộc. Họ nghĩ rằng phải “tận dụng cơ hội”. Khi Nhật thất bại, một nước Việt Nam đã được củng cố sẽ có thể tránh bị cuốn vào thảm họa và có thể tự quyết định vận mệnh của mình.
Vì vậy, nội các Trần Trọng Kim nhanh chóng bắt tay vào công việc, có vẻ như trước tiên vào việc tập trung giải quyết những vấn đề nổi bật nhất. Ngày 8/5, Bảo Đại, trước đã bày tỏ mong muốn trị vì dân (khẩu hiệu của chế độ trở thành “dân vi quý” – dân là trên hết) – thông báo việc chuẩn bị một bản Hiến pháp dựa trên cơ sở thống nhất đất nước, lao động, quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Trong thời gian chờ đợi, các ủy ban cố vấn sẽ được thành lập ở các cấp khác nhau.
Ngày 23/5/1945, Chính phủ ban hành cải cách thuế. Những người không có tài sản, cũng như tất cả công chức và công nhân có mức lương hằng năm dưới 1.200 đồng Đông Dương từ nay được miễn thuế thân.
Một nỗ lực lớn đã được thực hiện để thu hút thanh niên. Lúc này, chế độ mới được hưởng lợi từ công cuộc có kết quả đáng kể do chỉ huy Ducoroy thực hiện dưới thời Đô đốc Decoux. Hơn nữa trong một khoảng thời gian, phong trào thanh niên cũng đã ít nhiều thấm nhuần tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, và những người hướng dẫn họ chính là lực lượng cán bộ đã được đào tạo sẵn sàng. Ông Phan Anh, một luật sư trẻ và xuất chúng, Bộ trưởng Bộ Thanh niên khi mới 33 tuổi, cùng với ông Tạ Quang Bửu đã thúc đẩy các phong trào thanh niên mở rộng nhanh chóng, đặc biệt ở Nam Kỳ. Cũng tại đây, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã lãnh đạo phong trào mang tên “Thanh niên Tiền phong”. Người Nhật cũng tỏ ra rất quan tâm và ủng hộ.
Trong lĩnh vực hành chính, các quan chức người Việt đã tạo sức ép buộc phía Nhật Bản từ bỏ việc dùng người Pháp. Các Phó phòng người Việt thay cho vị trí các Trưởng phòng người Pháp. Trong giáo dục, chữ quốc ngữ thay thế hoàn toàn tiếng Pháp, tiếng Pháp trở thành ngoại ngữ thứ ba sau tiếng Nhật và tiếng Anh. Về mặt chính trị, một lệnh ân xá cho những người không bị kết án chính trị là cộng sản được công bố và các đảng phái chính trị chính thức được cho phép hoạt động.
Tuy nhiên, toàn bộ hành động của Chính phủ Trần Trọng Kim, dù khởi đầu đầy nhiệt huyết, đã vấp phải hai trở ngại lớn: người dân còn non nớt về chính trị và sức ép từ phía Nhật Bản.
Trước hết, rất ít người hiểu ý nghĩa thực sự của độc lập và những trách nhiệm nặng nề mà nó mang theo. Chỉ cần đọc báo chí Việt Nam lúc đó, chẳng hạn như các số tờ Việt Nam Tân Báo ở Huế, cũng đủ để thấy tình hình. Đối với phần đông những người nông dân, chủ yếu độc lập có nghĩa là chấm dứt mọi ràng buộc hành chính: không còn thuế, không còn trưng thu, không còn kiểm soát. Ngay trong bộ máy hành chính, sự buông lỏng bắt đầu len lỏi khắp nơi. Các dịch vụ công vẫn tiếp tục hoạt động nhờ vào đà trước đó, nhưng đông đảo công chức, học sinh và công nhân tham gia vào các cuộc diễu hành và mít tinh. Sự hỗn loạn dần dần lan rộng và Chính phủ khó lòng kiểm soát được tình hình bên ngoài các thành phố lớn. Ở các tỉnh, khoảng trống hành chính bắt đầu hình thành.
Tiếp đó, sức ép từ Nhật Bản đối với Chính phủ Trần Trọng Kim rất lớn, cả về chính trị, kinh tế, lẫn quân sự.
Về mặt chính trị, người Nhật tự giữ lại cho mình những chức vụ quyền lực. Ở Nam Kỳ, một Thống đốc Nhật Bản, ông Minoda đã thay thế Thống đốc người Pháp. Ở Trung Kỳ, chính Đại sứ Nhật Bản Yokoyama đã kiêm luôn hầu hết chức năng của Khâm sứ cho đến khi hoàn tất việc hợp nhất các cơ quan triều đình và cơ quan bảo hộ. Ở Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ, người Nhật tiếp quản các cơ quan địa phương của Pháp và của Toàn quyền Đông Dương. Ông Tsukamoto, một nhà ngoại giao, đứng đầu điều hành những cơ quan này.
Chính phủ Trần Trọng Kim (với người điều hành chủ chốt là Luật sư Trần Văn Chương) đã tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì để giành thực quyền và thực hiện việc thống nhất Việt Nam.
Tháng 6, chính phủ này đạt được việc hợp nhất các cơ quan của triều đình với các cơ quan chung của Pháp trước đây, và thống nhất được nguyên tắc giải thể Toàn quyền Đông Dương, chuyển giao chức năng của Toàn quyền cho Việt Nam, Campuchia và Lào. Ngay từ tháng 3, họ cũng đã khẳng định được thẩm quyền của mình ở Bắc Kỳ thông qua việc cử ông Phan Kế Toại, một Khâm sai ra Hà Nội. Tháng 7, các quyền quản lý tô giới của Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng chuyển lại về Việt Nam, và có lời hứa sẽ chuyển giao toàn bộ cơ quan của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 15/8. Ở Nam Kỳ, Nhật kháng cự quyết liệt hơn. Họ tìm cách chia rẽ người Việt và người Khmer. Mãi tới ngày 8/8, ngay sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima, người Nhật mới chịu đồng ý giao quyền quản lý Nam Kỳ cho Chính phủ Huế.
Tuy đó là những thành tựu không thể phủ nhận, nhưng chúng vẫn không thể giúp chính quyền mới giành được sự ủng hộ từ quần chúng. Thực tế, nhân dân cũng cảm nhận được những thành công này chỉ mang tính tạm bợ, bởi chúng phụ thuộc vào số phận của nước Nhật. Báo chí thì ra sức kêu gọi những người còn ngờ vực, thờ ơ và trung lập – điều này chứng tỏ còn nhiều người dân vẫn không muốn tham gia. Nhưng báo chí cũng tìm mọi cách, bằng đủ phương tiện, đào sâu hố ngăn cách giữa Việt Nam và nước Pháp, có lẽ để đánh lạc hướng sự chú ý của dân chúng trước cảnh chính quyền bất lực
Tại sao họ lại dùng những lời lẽ đầy căm ghét? Cuộc chia tay giữa thời đại chủ nghĩa thực dân bảo thủ cũ và một kỷ nguyên mới đã hoàn tất, dù vẫn còn mơ hồ và bất định. Trong tâm trí người dân, trang sử nước Pháp đã khép lại. Người Pháp sẽ không quay lại nữa. Cuộc chia tay ấy diễn ra đột ngột, người ta từng hi vọng Việt Nam có thể độc lập mà không phải chống lại Pháp. Những lời nói căm ghét là kết quả ảnh hưởng từ những hoạt động của Hiến binh Nhật. Họ gieo mầm căm thù nhằm dễ dàng cai trị châu Á hơn.
Các nhà tuyên truyền người Nhật đã làm mọi cách để phá hủy uy tín của người Pháp. Người dân Pháp tập trung ở một số khu vực ở đô thị (Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Lạt, Nha Trang, Sài Gòn). Những khu vực này khá rộng, bao gồm gần như toàn bộ khu phố của người Âu. Việc dồn dân Pháp từ các tỉnh lân cận về đây lập tức tạo thành cảnh chen chúc, điều kiện ăn ở, sinh hoạt khiến phần lớn người Pháp ở Đông Dương chưa bao giờ trải qua điều đó trở nên hoang mang. Họ nhanh chóng mất các tiện nghi thường ngày (người giúp việc, phương tiện đi lại), tình hình trở nên tệ hơn. Trong lúc đó, sự thù địch và kiêu căng của lực lượng Cao Đài và các nhóm dân tộc chủ nghĩa càng gia tăng, và đã bắt đầu nảy sinh những vụ va chạm lẻ tẻ.
Nhưng cũng như mọi nơi khác, thực chất kẻ kích động tinh thần bài ngoại trước hết nhắm vào việc đánh lạc hướng. Trên phương diện kinh tế, áp lực phía Nhật mang lại còn nặng nề hơn cả lĩnh vực chính trị. Từ năm 1943, các lực lượng số 10 và số 14 Không quân Mỹ đã bắt đầu tấn công nhiều mục tiêu công nghiệp và chiến lược ở Đông Dương, đặc biệt là các tuyến giao thông. Từ mùa thu năm 1944, những cuộc ném bom này ngày càng tăng, tàn phá và gây chết chóc nhiều hơn. Việc phân tán mục tiêu khiến một số người nghĩ rằng bộ chỉ huy Mỹ chỉ coi trọng những tin tức do mạng lưới tình báo cung cấp ở mức tương đối. Tuy nhiên, những cuộc tấn công này đã để lại hậu quả kinh tế và tâm lý rất nghiêm trọng. Tuyến giao thông Bắc – Nam bị gián đoạn, rồi gần như tê liệt, cản trở việc vận chuyển gạo từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ vốn đông dân, lại đúng lúc mất mùa vụ lúa tháng 10/1944. Hậu quả là giá gạo tăng vọt nhanh chóng, tiếp đó là nạn đói khủng khiếp.
Kể từ mùa xuân năm 1945, hành động của không quân Mỹ thực sự làm đất nước chia thành hai đến ba vùng, gần như cô lập hẳn Bắc Kỳ. Mọi nỗ lực từ công đến tư nhằm phá vỡ tình trạng “phong tỏa” này – như thuê thêm tàu nhỏ, bốc dỡ trung chuyển nhiều lần, hay dùng đường bộ – đều không hiệu quả. Các đợt bắn phá từ không quân ngày càng gia tăng. Ở miền Bắc, nạn đói, lại thêm nạn lụt đã trở nên thảm khốc. Từ mùa thu, nạn đói đã cướp đi gần một triệu sinh mạng, người ta bắt đầu lo ngại dịch bệnh sẽ xảy đến. Giá cả tiếp tục leo thang, trong khi các yêu cầu thu mua từ quân đội Nhật không thuyên giảm. Giờ đây, Chính phủ Trần Trọng Kim đảm nhiệm việc thu mua gạo phục vụ cho nhu cầu của quân đội.
Ở nông thôn, sự phẫn nộ của dân chúng ngày càng dâng cao. Các cán bộ Việt Minh đã khuyến khích nông dân không nộp gạo, tổ chức cướp kho lúa. Tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ lan rộng khắp nơi. Đến tháng 7, tại Hà Nội, Trần Trọng Kim đạt được một số nhượng bộ về vấn đề thu mua gạo từ phía quân đội Nhật. Nhưng đã quá muộn. Dù vụ mùa tháng 5/1945 khá tốt và làm dịu phần nào căng thẳng, song ở nông thôn lúc này quyền lực thực tế đã thuộc về các cán bộ Việt Minh, trải dài từ vùng thượng du trở xuống. Còn ở thành thị, người ta biết rõ rằng, bất chấp những vụ bắt bớ của Hiến binh Nhật, ngay trong bộ máy hành chính, lực lượng Việt Minh cũng đã có ảnh hưởng khá sâu.■
Philippe Devillers
Lê Hằng Nga dịch